Bí quyết pha trà ngon

Bí quyết pha trà ngon

Nếu bạn đã từng thưởng thức trà và bạn nên tham khảo một vài bí mật dưới đây để có thể mang đến cho mình những tách trà hoàn hảo như mong đợi.

Bí quyết pha trà ngon

Bí quyết pha trà ngon

imgres1

 

Nếu bạn đã từng thưởng thức trà ở các phòng trà hay quán nước và nhận ra rằng nó… ngon hơn rất nhiều so với tự pha chế tại nhà thì có lẽ bạn nên tham khảo một vài bí mật dưới đây để có thể mang đến cho mình những tách trà hoàn hảo như mong đợi.

Pha chế ở nhiệt độ phù hợp

Thay vì đợi cho đến lúc ấm nước sôi sùng sục, hãy pha chế trà ở nhiệt độ nguội hơn một tí. Các chuyên gia hàng đầu trang lĩnh vực pha chế đã khẳng định rằng một trong những sai lầm lớn nhất nhưng cũng phổ biến nhất khi pha chế trà là sử dụng nước không đúng nhiệt độ. Chỉ những loại trà rắn nhất như trà Oolong và trà đen thì mới cần pha theo kiểu “luộc” như vậy. Trà trắng và các loại trà khác đều cần pha với nước có độ nóng thấp hơn, nước quá nóng có thể phá huỷ trà và thậm chí là mang lại vị đắng khó chịu. Tốt nhất, bạn nên đọc hướng dẫn pha trà được ghi bên ngoài bao bì để có những cách pha chế khác nhau phù hợp cho từng loại trà cụ thể.

Bí quyết pha trà ngon và bảo quản trà đúng cách

Bí quyết pha trà ngon và bảo quản trà đúng cách

Có nhiều yếu tố có thể làm giảm chất lượng trà như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và không khí… tuy nhiên …

Bí quyết pha trà ngon và bảo quản trà đúng cách

Bí quyết pha trà ngon và bảo quản trà đúng cách

561892_489893357702190_117061427_n

 

Nếu bạn đã từng thưởng thức trà ở các phòng trà hay quán nước và nhận ra rằng nó… ngon hơn rất nhiều so với tự pha chế tại nhà thì có lẽ bạn nên tham khảo một vài bí mật dưới đây để có thể mang đến cho mình những tách trà hoàn hảo như mong đợi.

Pha chế ở nhiệt độ phù hợp

Thay vì đợi cho đến lúc ấm nước sôi sùng sục, hãy pha chế trà ở nhiệt độ nguội hơn một tí. Các chuyên gia hàng đầu trang lĩnh vực pha chế đã khẳng định rằng một trong những sai lầm lớn nhất nhưng cũng phổ biến nhất khi pha chế trà là sử dụng nước không đúng nhiệt độ. Chỉ những loại trà rắn nhất như trà Oolong và trà đen thì mới cần pha theo kiểu “luộc” như vậy. Trà trắng và các loại trà khác đều cần pha với nước có độ nóng thấp hơn, nước quá nóng có thể phá huỷ trà và thậm chí là mang lại vị đắng khó chịu. Tốt nhất, bạn nên đọc hướng dẫn pha trà được ghi bên ngoài bao bì để có những cách pha chế khác nhau phù hợp cho từng loại trà cụ thể.

Chất lượng của nước pha chế phải đảm bảo

Mặc dù nước từ vòi nước nhà bạn hoàn toàn đảm bảo chất lượng nhưng một tách trà hoàn hảo có những đòi hỏi cao hơn thế. Các chuyên gia pha chế trà bật mí rằng họ thường sử dụng nước khoáng để làm nên những tách trà thơm ngon hảo hạng; nếu không có nước khoáng thì nước lọc cũng là một sự lựa chọn tốt. Hãy nhớ là đừng nên sử dụng vòi nước nóng có sẵn để pha trà, nó rất tiện dụng nhưng sẽ khiến bạn thất vọng ngay sau đó.

Uống trà cũng là một nghệ thuật

Tách trà pha xong sẽ thơm ngon hơn rất nhiều nếu bạn biết cách thưởng thức nó. Trà không phải là loại thức uống giải khát qua loa mà đòi hỏi người thưởng thức phải cảm nhận được sự tinh tế của nó. Hãy dành cho mình thời gian thư giãn và thưởng thức từng ngụm trà trong một tâm trạng nhẹ nhàng, thoải mái nhất. Đấy không chỉ là cách giúp bạn giải tỏa stress hiệu quả mà còn giúp cơ thể bạn hấp thu được những nguồn chất hữu ích từ trà một cách tốt nhất.

Nếu bạn thích uống ngọt

Hãy làm ngọt tách trà của bạn một cách tự nhiên. Bạn không nên cho thêm đường vào nước trà mà hãy cho những thành phần từ thiên nhiên có thể làm ngọt tách trà của bạn như các loại mứt từ cánh hoa, trái cây… những “gia vị” tự nhiên này sẽ mang cảm giác mới lạ, ngon miệng mà vẫn không làm mất đi hương vị đặc trưng của nước trà.

Bảo quản trà đúng cách

Có nhiều yếu tố có thể làm giảm chất lượng trà như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và không khí… tuy nhiên, các chuyên gia nói rằng những lá trà loại xốp, mềm nếu như được bảo quản đúng cách sẽ duy trì được sự tươi mát trong suốt thời gian dài. Tốt nhất, bạn nên cho trà vào một chiếc hộp kín, đặt trong môi trường khô, thoáng, ít ánh sáng, như vậy chất lượng của nó sẽ được kéo dài đến 3 năm.

Có thể bạn cho rằng pha một tách trà thật tốn công, nhưng hãy cố gắng thực hiện theo những lời khuyên trên đây, bạn sẽ được thưởng thức những tách trà thơm ngon và tốt cho sức khoẻ.

Không gian thưởng trà của người Việt

Không gian thưởng trà của người Việt

Khác với Nhật Bản, cách thưởng thức trà và góc thưởng trà của Việt Nam lại hướng đến sự gần gũi giản dị, tinh tế và lược bỏ tối đa cái rườm rà.

Không gian thưởng trà của người Việt

Không gian thưởng trà của người Việt

47222_489892924368900_1070303263_n

 

Ngoài những không gian chính yếu như bếp núc, phòng ngủ, tiếp khách… không gian ẩm thực trong ngôi nhà Việt xưa nay còn tồn tại hình thức thưởng trà (nơi uống trà, nói chuyện, thư giãn vào buổi sớm hoặc chiều tối) mang đặc trưng văn hóa Việt rất riêng mà cuộc sống hiện đại, ngôi nhà hiện đại nhiều khi bỏ qua một cách đáng tiếc. Thực ra, góc thưởng trà là một vị trí giao hòa âm dương, tĩnh động khá linh hoạt và đem lại nhiều ích lợi về gia tăng đáng kể sinh khí cho nội thất, nếu biết khéo kết hợp hài hòa.

Khác với Nhật Bản, cách thưởng thức trà và góc thưởng trà của Việt Nam lại hướng đến sự gần gũi giản dị, tinh tế và lược bỏ tối đa cái rườm rà. Dân Việt uống trà không cầu kỳ vào ra trà thất, một ấm trà pha sớm mùa đông, một chén trà được sư thầy mời bên hiên chùa, tách trà qua hàng xóm giao đãi thân tình, đơn giản nhưng khá đủ đầy làm nên nét đẹp văn hóa, xem trọng các mối quan hệ giao hòa với tự nhiên và con người .

Tùy theo từng gia đình, cấu trúc cụ thể mà vị trí góc thưởng trà có thể cố định hoặc không. Mưa thuận gió hòa thì ngồi bên hiên, trong sân, nơi giếng trời có mái dù che, chòi nghỉ nhẹ, ung dung thoải mái. Còn khi mưa tạt gió hắt oi bức khó chịu thì lùi vào bên trong, cạnh bàn thờ gia tiên, kết hợp bàn ăn gia đình hay bàn tiếp khách là vị trí lý tưởng để thưởng trà. Chính tính linh hoạt này khiến góc thưởng trà Việt không cố định hình thức, không bị đóng khung trong trà thất, đồng thời tạo ra một không gian mang tính nghỉ ngơi có kèm theo ẩm thực. Tiêu chí phong thủy cơ bản nhất là cần gắn kết góc thưởng trà với một khoảng thiên nhiên (nhìn ra sân vườn, hồ cảnh) hoặc nhân tạo (tranh ảnh, tủ trưng bày…), mang tính Thổ trung hòa là chính (hình 2). Một số gia đình kết hợp nơi trà đàm với phòng sinh hoạt chung hoặc phòng khách, nhà khác lại sử dụng hàng hiên hoặc sân trong, thậm chí có khi là một khoảng ban-công hay hành lang nối giữa các phòng. Dù bố trí tại đâu, không gian trà đàm cũng cần giữ tính trung dung vừa phải, đơn giản là tốt nhất.

 

che-tuoi1

 

Người Việt uống trà luôn có bạn. Bạn đối ẩm hữu hình và bạn vô hình, đó là cỏ cây, tiếng chim hót hay cành sen mới nở. Có 3 đặc tính không gian trà Việt cần xác lập để bố trí phù hợp, đó là :

- Không gian mở: mở của lòng người và mở của cung cách đón tiếp, tức là có thể tùy nghi thay đổi đem lại cấu trúc linh hoạt theo tinh thần kiến trúc hiện đại: vật liệu xanh, tiết kiệm và thuần chất.

- Không gian tĩnh: uống trà không thể ồn ào, không thể vừa hát karaoke, nhảy theo hip hop vừa nhấp ngụm trà. Chẳng cần bít bùng trà thất thâm nghiêm, nhưng phải giữ được chút lặng lẽ, tinh sạch cho tâm hồn.

- Không gian mộc mạc: chỉ với những vật liệu thân thiện như tre-gỗ-gạch-gốm thì vẫn đủ độ ấm nồng hơn rất nhiều những chất liệu hiện đại mà lạnh. Chẳng cần tinh xảo chăm chút như những đầu cột khung cửa, mà cũng không đến mức quá thâm u hoài niệm hay rực rỡ sắc màu trang trí lòe loẹt. Một bàn thấp, ghế nhẹ, cửa rộng, trần cao, ánh sáng ít mà chắt lọc, và không thể thiếu ánh sáng tự nhiên, gió tự nhiên, nắng tự nhiên. Nếu trời trở lạnh, đêm ùa tới, thì những ngọn đèn lồng, ánh sáng vàng ít trang điểm cũng đủ sức làm tăng phần ấm áp rồi .

Không gian thưởng trà của người Việt

Từ một góc thưởng trà Việt giản dị, có thể thấy yếu tố phong thủy trong không gian Việt thiên về sự thiết thực, tiết giảm và thân thiện, khác hẳn với các bài trí xa hoa và mê tín. Giao hòa Thiên – Địa – Nhân, đó là đích đến của nghệ thuật bài trí nhà cửa hợp trời đất, hợp lòng người.

Ngoài những không gian chính yếu như bếp núc, phòng ngủ, tiếp khách… không gian ẩm thực trong ngôi nhà Việt xưa nay còn tồn tại hình thức thưởng trà (nơi uống trà, nói chuyện, thư giãn vào buổi sớm hoặc chiều tối) mang đặc trưng văn hóa Việt rất riêng mà cuộc sống hiện đại, ngôi nhà hiện đại nhiều khi bỏ qua một cách đáng tiếc. Thực ra, góc thưởng trà là một vị trí giao hòa âm dương, tĩnh động khá linh hoạt và đem lại nhiều ích lợi về gia tăng đáng kể sinh khí cho nội thất, nếu biết khéo kết hợp hài hòa.

Khác với Nhật Bản, cách thưởng thức trà và góc thưởng trà của Việt Nam lại hướng đến sự gần gũi giản dị, tinh tế và lược bỏ tối đa cái rườm rà. Dân Việt uống trà không cầu kỳ vào ra trà thất, một ấm trà pha sớm mùa đông, một chén trà được sư thầy mời bên hiên chùa, tách trà qua hàng xóm giao đãi thân tình, đơn giản nhưng khá đủ đầy làm nên nét đẹp văn hóa, xem trọng các mối quan hệ giao hòa với tự nhiên và con người (hình 1).

Không gian thưởng trà của người Việt

Tùy theo từng gia đình, cấu trúc cụ thể mà vị trí góc thưởng trà có thể cố định hoặc không. Mưa thuận gió hòa thì ngồi bên hiên, trong sân, nơi giếng trời có mái dù che, chòi nghỉ nhẹ, ung dung thoải mái. Còn khi mưa tạt gió hắt oi bức khó chịu thì lùi vào bên trong, cạnh bàn thờ gia tiên, kết hợp bàn ăn gia đình hay bàn tiếp khách là vị trí lý tưởng để thưởng trà. Chính tính linh hoạt này khiến góc thưởng trà Việt không cố định hình thức, không bị đóng khung trong trà thất, đồng thời tạo ra một không gian mang tính nghỉ ngơi có kèm theo ẩm thực. Tiêu chí phong thủy cơ bản nhất là cần gắn kết góc thưởng trà với một khoảng thiên nhiên (nhìn ra sân vườn, hồ cảnh) hoặc nhân tạo (tranh ảnh, tủ trưng bày…), mang tính Thổ trung hòa là chính (hình 2). Một số gia đình kết hợp nơi trà đàm với phòng sinh hoạt chung hoặc phòng khách, nhà khác lại sử dụng hàng hiên hoặc sân trong, thậm chí có khi là một khoảng ban-công hay hành lang nối giữa các phòng. Dù bố trí tại đâu, không gian trà đàm cũng cần giữ tính trung dung vừa phải, đơn giản là tốt nhất.

Không gian thưởng trà của người Việt

Người Việt uống trà luôn có bạn. Bạn đối ẩm hữu hình và bạn vô hình, đó là cỏ cây, tiếng chim hót hay cành sen mới nở. Có 3 đặc tính không gian trà Việt cần xác lập để bố trí phù hợp, đó là :

- Không gian mở: mở của lòng người và mở của cung cách đón tiếp, tức là có thể tùy nghi thay đổi đem lại cấu trúc linh hoạt theo tinh thần kiến trúc hiện đại: vật liệu xanh, tiết kiệm và thuần chất.

- Không gian tĩnh: uống trà không thể ồn ào, không thể vừa hát karaoke, nhảy theo hip hop vừa nhấp ngụm trà. Chẳng cần bít bùng trà thất thâm nghiêm, nhưng phải giữ được chút lặng lẽ, tinh sạch cho tâm hồn.

- Không gian mộc mạc: chỉ với những vật liệu thân thiện như tre-gỗ-gạch-gốm thì vẫn đủ độ ấm nồng hơn rất nhiều những chất liệu hiện đại mà lạnh. Chẳng cần tinh xảo chăm chút như những đầu cột khung cửa, mà cũng không đến mức quá thâm u hoài niệm hay rực rỡ sắc màu trang trí lòe loẹt. Một bàn thấp, ghế nhẹ, cửa rộng, trần cao, ánh sáng ít mà chắt lọc, và không thể thiếu ánh sáng tự nhiên, gió tự nhiên, nắng tự nhiên. Nếu trời trở lạnh, đêm ùa tới, thì những ngọn đèn lồng, ánh sáng vàng ít trang điểm cũng đủ sức làm tăng phần ấm áp rồi (hình 3).

Không gian thưởng trà của người Việt

Từ một góc thưởng trà Việt giản dị, có thể thấy yếu tố phong thủy trong không gian Việt thiên về sự thiết thực, tiết giảm và thân thiện, khác hẳn với các bài trí xa hoa và mê tín. Giao hòa Thiên – Địa – Nhân, đó là đích đến của nghệ thuật bài trí nhà cửa hợp trời đất, hợp lòng người.

Ly và Trà

Ly và Trà

Ngồi trong phòng khách, thấy Trà không chịu hòa vào ấm nước đang nóng để tỏa ra những hương thơm ngát, hòa quyện vào lòng Ly như mọi ngày

Ly và Trà

Ly và Trà

535984_489887154369477_948561083_n

 

Ngồi trong phòng khách, thấy Trà không chịu hòa vào ấm nước đang nóng để tỏa ra những hương thơm ngát, hòa quyện vào lòng Ly như mọi ngày, Ly liền hỏi: có chuyện gì đang xảy ra với Trà thế? Nhìn mặt cậu hôm nay không được tốt cho lắm?

Ly và Trà

Đúng đấy Ly à, thật sự tớ đang rất buồn, buồn vì cảm nhận của… con người chưa đúng về tớ. Hàng ngày khi con người muốn dùng đến tớ, họ thường cho tớ vào ấm nước thật nóng để tớ tỏa ra những hương thơm, những vị chát hòa quyện vào trong nước để rồi họ đưa vào trong cơ thể của họ với nhiều mục đích khác nhau, có người dùng tớ như một phương tiện giải nhiệt, có người dùng tớ để tạo ra cảm hứng làm thơ, có người thì coi tớ như một người bạn cùng ngắm trăng và cũng có người dùng tớ chỉ đơn thuần để mà uống,…, nhưng có mấy ai biết được, cảm nhận được mong muốn của tớ.

Có người cho rằng tớ xuất thân từ sự tinh khiết và cao quý nên chỉ có những bậc thánh hiền, cao nhân mới được dùng đến tớ, nhưng họ đâu có biết rằng để có được sự tinh khiết đó tớ đã sống cùng với những người lao động mà có thể suốt đời họ “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, và tớ phải tuân thủ qua một quá trình chế biến thật sự nghiêm ngặt, vì vậy tớ muốn thân thiện cùng tất cả mọi người, với những ai cần tớ và có điều kiện sử dụng tớ.

Tớ không phải là chất chứa nồng độ cồn để kích thích niềm kiêu hãnh, sĩ diện hay cái tôi trong con người, nhưng có người bắt người khác phải dùng tớ trong một không gian sang trọng để không làm giảm bớt sự tinh khiết của tớ, ai cũng cho rằng ý kiến mình là đúng, có mấy ai hiểu rằng tớ là phương tiện cho họ khi họ cần đến tớ, họ có thể dùng tớ mọi lúc, mọi nơi khi tớ có mặt, họ chỉ cần biết cách sử dụng tớ, để tớ nở mình bung ra những vị chát và hương thơm hòa vào nước, cho tớ chảy tan vào lòng cậu và hãy thưởng thức tớ một cách đơn giãn và bình dị, hãy để tớ tự nhiên đi vào trong cơ thể họ, để họ có thể cảm nhận được từ mọi ngõ ngách của tâm hồn, nơi mà tớ đã đi qua.

Ly và Trà

Cậu thấy như vậy có đáng buồn không chứ?

Thấy được vẻ mặt chán nản của Trà, Ly trầm tư một hồi rồi nói: Tớ cũng đã từng có tâm trạng giống như cậu, có thể cậu và tớ đều là vật dụng và là phương tiện của con người, nên cũng có nhiều người thích và cũng không ít người chê, mình như thế nào đều do cảm nhận của con người, cậu ạ. Cậu còn nhớ một bài thơ mà cậu và tớ từng được nghe của một bậc Thầy cao quý không:

“Đứng bất động giữa dòng đời biến động

Mặc biển đời gió nghiệp nổi thị phi,

Mặc cho ai cứ mãi nói thầm thì

Vẫn bất động trên đường ta đã định”

Vậy nên bạn cứ bung mình trong nước, tỏa ngát hương thơm và vị chát, cậu hãy chảy tan vào lòng tớ để đi vào cuộc sống của con người, cho những ai cần chúng ta.

Như chợt nhận ra điều gì, Trà thả mình vào ấm nước nóng một cách nhẹ nhàng, vươn mình ra, tỏa hương thơm chảy vào lòng Ly và đưa vào lòng người một luồng ấm áp, hòa quyện vào vị chát cuộc đời, cả ba nhìn nhau mỉm cười “Triệu người quen có mấy người thân”, hãy tận hưởng hạnh phúc ngay giây phút hiện tại.

Chén trà chân thật

Chén trà chân thật

Giữa cuộc sống náo động, nhịp sống vội vã dễ làm tinh thần con người mất quân bình. Và khi tâm thần mất sự hài hòa, đời sống tâm linh sẽ không khỏi chịu ảnh hưởng.

Chén trà chân thật

Chén trà chân thật

247699_489890641035795_1455630336_n

 

Giữa cuộc sống náo động, nhịp sống vội vã dễ làm tinh thần con người mất quân bình. Và khi tâm thần mất sự hài hòa, đời sống tâm linh sẽ không khỏi chịu ảnh hưởng. Làm thế nào để quân bình cuộc sống? Có nhiều phương pháp thực hiện, từ bình diện tâm lý đến tâm linh. Ban Mục vụ Đối thoại liên tôn TGP xin giới thiệu gợi ý của tác giả Hồng Bối như một đề nghị thực hành khả thi nhằm tái lập sự thanh thản tinh thần.

Trà là một loại thảo dược độc đáo mà thiên nhiên ban tặng cho con người, từ đó trở thành sự sáng tạo văn hóa và nguồn cảm hứng vô bờ bến không thể thiếu của các thi nhân, ẩn sĩ. Nói đến trà, chúng ta khó có thể dùng ngôn từ mà diễn tả cho hết bản sắc vi diệu của nó. Vì vốn dĩ bản chất của trà là thực, là đạo, là tỉnh thức, là sống trọn vẹn ngay trong hiện tại, bây giờ và ở đây. Khi bạn nâng chén trà tức bạn đã hòa mình vào không gian vũ trụ, mà ở đó thường chỉ có thi nhân và ẩn sĩ mới thực nghiệm được toàn vẹn giá trị đích thực của chén trà.

Vũ trụ bao la, chén trà nhỏ bé. Thời gian vô cùng, không gian vô tận. Cá thể hữu hạn, bản thể vô hạn. Làm sao chúng ta có thể dùng trí năng khối óc để đo lường tính toán cho được khi khoa học vẫn chưa tìm ra căn nguyên của vũ trụ. Mà dẫu cho khoa học có tìm ra căn nguyên vũ trụ đi chăng nữa thì đó cũng chỉ là căn nguyên trên ấn định giả tưởng mà thôi.

Đứng ở phương diện thực tại kiếp người mà nói, con người muốn có hạnh phúc đích thực thì chỉ khi nào con người biết dừng lại trước cái viển vông, ảo tượng của lối suy luận trần gian mà quay về lại với thực tại chính mình, để chiêm nghiệm thấy sự sống xung quanh quả thật mầu nhiệm. Một bông hoa, mỗi ngọn cỏ, một hạt sỏi, mỗi chén trà, tất cả đều có sự gắn kết liên hệ mật thiết với nhau. Trong chén trà chứa cả sương gió vũ trụ, trong sương gió vũ trụ mà thấy cả chén trà.

Nhờ vậy mà trong khoảnh khắc thời gian, thi nhân đã thấy sự mầu nhiệm của chén trà.

“Trong một chén trà thơm

có hồ sen bát ngát,

Trong một làn gió mát,

có muôn vạn trùng dương,

Trong trang giấy bình thường

có cổ kim nhân loại”.

Hay nói đơn giản, ngắn gọn như Viên Ngộ :

“Thong dong mỗi tách trà

Tâm rỗng rộng bao la

Uống trà trong nắng sớm

Vườn tâm đầy hương hoa”.

Và gần chúng ta hơn, Thầy Nhất Hạnh cũng đã nói lên nỗi giao cảm với chén trà, với đạo, với sự tỉnh thức thực tại chính mình, qua bài thơ :

“Chén trà trong hai tay

Chánh niệm nâng tròn đầy

Thân và tâm an trú

Bây giờ và ở đây”.

Chỉ với chén trà bình dân Việt Nam mà Thầy đã đưa con người từ thế giới viển vông trở về lại thực tại cuộc sống bây giờ và ở đây, và cũng chỉ với cái thấy ấy mới giúp con người lột xác, tháo gỡ được những xiềng xích hủ bại, bế tắc, những cái vòng quanh của một kiếp người.

Lặng lẽ ngồi bên chén trà với bất kỳ tư thế nào đi chăng nữa, ta cũng cảm nhận trà là một người bạn chân tình ở mọi lúc mọi nơi. Nói về trà cũng như ta đang hát bài ca “Một đời người một rừng cây” của Trần Long Ẩn, hay “Tình xa” của Trịnh Công Sơn, tiết tấu âm điệu buông thả lên xuống êm đềm tự nhiên, làm cho tâm hồn ta rung động khi cảm cái hay cái đẹp ở mỗi vần điệu, nhịp độ.

Trà đưa thi sĩ trở lại con người thật của thi sĩ, đưa ẩn sĩ về lại cội nguồn ẩn sĩ, đưa tình huynh đệ xa cách trở nên gần gũi ấm cúng hơn bao giờ hết, “Một đêm tri kỷ chuyện trò, còn hơm xem sách lần mò mười năm”. Trong cuộc sống, mọi người thường cho rằng tình huynh đệ cao quý hơn cả, nhưng thiết nghĩ để có được tình huynh đệ thắm thiết chân thực thì không có gì quý bằng được ngồi bên nhau trong những cuộc thưởng trà. Trà không có tính chất đơn điệu lẻ loi như cà phê hay buồn sầu bất mãn như rượu. Trà nuôi dưỡng và đề cao sự tao nhã, nhẹ nhàng, thanh thoát, biểu lộ sự giản dị, chân thật tinh khiết vô cùng.

Uống trà để tâm hồn an nhàn thanh thản quên đi cái ồn ào, náo nhiệt của phố thị, cái lo toan của cuộc sống. Tại thư phòng, nói đúng nghĩa là góc yên thân, uống được chén trà là diễn tả cả quá trình phong cách nghệ thuật sống, bao tâm huyết tinh túy lịch lãm nhất của nội tại lẫn ngoại tại đều được phơi bày ở đây, nơi ta trở lại chính ta, nơi ta dành nhiều thời giờ để làm cuộc hành trình phá tan màn u tối.

Cuộc sống xã hội hiện đại chứa đựng một số yếu tố tiêu cực đang dần dần tiêm nhiễm đầu độc phá hoại tâm ý của chúng ta; đối phó với vấn nạn cấp bách này, mỗi con người cần có cơ hội để ý thức được mình và trở về chính mình. Ngồi bên ấm trà mặc nhiệm tự tại với tâm không lăng xăng cẩu thả, dùng hết kỹ năng khéo léo của đôi bàn tay pha một bình trà và rồi nhẹ nhàng khoang thai nâng chén lên nhấp từng ngụm từ tốn của sự tỉnh thức và cẩn trọng, ta sẽ cảm nhận hương vị ngào ngạt toát ra từ trà. Nếm vị trà là nếm vị thiên nhiên. “Nhất nước, nhì pha, tam trà, tứ ấm”, tay chỉ dơ một chút, chén dính chút vết dầu mỡ là trà cũng mất hết hương vị. Cho nên pha trà đúng cách thì hương vị trà với ta là một,

“Chén trà này khung cảnh này

Ngàn năm đâu dễ có hôm nay

Nống ngày nay biết ngày nay

Xuân thu năm tháng chớ hay làm gì”.

Biến thể vũ trụ vận hành cuộc sống theo quy luật cũng biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Nhưng những lúc được ngồi uống trà bên cạnh những người thân thương trong giờ phút trời đất giao hòa thì không có gì hạnh phúc bằng khoảnh khắc thiên thu đó. Nếu giờ phút này ta sống trọn vẹn với mọi người mà ta gặp bằng tấm lòng chân thật của tình thương và hiểu biết thì dù mai này không gặp nhau đi chăng nữa, ta cũng sẽ không ân hận, cũng chẳng hối tiếc, vì ta đã sống trọn vẹn hết lòng cho nhau. Thật tiếc cho những ai chưa từng biết thưởng thức trà bằng tâm chân thật như vậy.

Hãy thử uống trà đi! Vì uống trà là mở ra câu chuyện, từ chuyện đông đến chuyện tây, từ chuyện xưa đến chuyện nay, ngôn từ thầm lặng, hòa ái dạt dào đầy tình thương của trà sẽ gieo rắc, ban phát tưới mát dòng sông tâm thức chính ta, làm cho cõi lòng nhân sinh mỗi cá nhân uống trà có cùng chung một tiếng nói. Tiếng nói chân thật, Huynh Đệ Trà xưa nay.

Tác giả: Hồng Bối

Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam – Ấn phẩm Đông – Xuân 2011, tr. 40-42.

Trà và Nghệ thuật Trà Hà Nội

Trà và Nghệ thuật Trà Hà Nội

” Người Việt ta dường như mở mắt chào đời đã thấy trà, uống trà trọn đời và đến khi về cõi thiên cổ, vẫn được tẩm liệm với trà… “

Trà và Nghệ thuật Trà Hà Nội

Trà và Nghệ thuật Trà Hà Nội

tra sen ha noi 2 (2)

 

Thuở nhỏ, những dịp hầu trà các bậc thúc bá trong gia đình, tôi vẫn thường nghe các cụ bảo: “Trà là một nghệ thuật lớn”. Khởi từ đất trồng, địa hình, khí núi, nắng mưa, sương gió tưới tắm, ươm bật thành lộc non, lá nõn cho đến khi thu hái, sao chế, để có được một ấm trà ngon ngồi pha mà nhâm nhi thưởng thức, đó là cả một hành trình dằng dặc mà mỗi chặng, mỗi nhịp đều phải đạt đến được cái chân nghệ thuật thì cái đích cuối cùng: một ly trà ngon mới thật là viên mãn. Không phải ngẫu nhiên mà trong tất cả các thức uống của cõi nhân sinh này, trà được xem là nghệ thuật tinh vi nhất. Này nhé, cũng một đồi trà, nhưng trà hướng Đông (Đông pha) bao giờ cũng ngon hơn trà hướng Tây (Tây pha). Bởi cây trà hướng Đông đón nhận những tia nắng mặt trời buổi sớm nên phản ứng sinh trưởng khác với cây trà hướng Tây.

Lại nữa, cũng một vườn trà nhưng bốn mùa xuân, hạ, thu, đông là bốn mùa trà với bốn mùa hương vị. Tuyệt hảo nhất là trà “Xuân 1″ hay còn gọi là trà “Tiền minh” (trước tiết Thanh minh). Khi cái giá rét của mùa đông vừa qua đi, những tia nắng ấm đầu tiên của mùa xuân vừa ló rạng thì những đọt non cũng bừng nhú trên những cành chè khẳng khiu. Thứ đọt non ấy nếu hái lúc sớm tinh mơ, khi cả đồi chè còn chìm trong sương rồi đem về “sao suốt” trên chảo gang thì hương thơm ngào ngạt như chõ xôi nếp cái, hậu vị ngọt bền vấn vít mãi trong cổ họng như ngậm đường phèn. Các cụ bảo: “Uống một tách trà, đi xa vạn dặm” là vậy. Loại trà ấy, thời xưa, chuyên dùng để tiến vua. Những thiếu nữ đồng trinh với đôi tay mềm mại dùng móng tay dài khẽ khàng bấm từng đọt non trên cùng của búp trà. Da thịt không được chạm vào bởi họ sợ dường như sức nóng của cơ thể, mùi của thịt da sẽ làm lệch lạc đi hương vị của trà. Khi búp trà được sao khô trên chảo gang dưới bàn tay chai dày của những nghệ nhân nức tiếng sẽ cong như lưỡi con chim sẻ nên còn gọi là trà “Tước thiệt” (lưỡi con chim sẻ). Tôi đọc sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi thấy ghi danh trà hảo hạng này được sản xuất ở vùng Châu Sa Bôi, tức Quảng Trị ngày nay. Rất tiếc, nghệ thuật sao chế trà Tước thiệt nay đã bị thất truyền. Vả lại, dẫu bây giờ, ai đó có kỳ công làm được loại trà tiến vua ấy thì không hiểu giá tiền một ki-lô-gam sẽ là bao nhiêu? Và khách ẩm thuỷ thời Lipton, Dimah có đủ trình độ mà thưởng thức?

Nói đến sự công phu, tinh vi của nghệ thuật trà, tôi vẫn kính nể nhất “anh” Trung Quốc. Vẻ màu mỡ, tốt tươi của hàng ngàn dãy núi điệp trùng bảng lảng khói sương, xanh mướt nương chè cùng những bí quyết sao tẩm “chém cột nhà thề bất khả truyền” của hàng vạn nghệ nhân trà Trung Quốc đã sản sinh ra không biết bao nhiêu danh trà nức tiếng. Những Long Tỉnh trà, Ô long trà, Đại Hồng Bào, Thiết Quan Âm, La Hán… mà bất cứ ai, dẫu chỉ một lần ghé môi cũng “phải lòng” mê mẩn. Đặc biệt, người Trung Quốc lại khéo léo phủ lên các danh trà ấy những lớp lang huyền thoại để rồi tạo nên một dòng trà truyền kỳ “độc nhất vô nhị” trên cõi thế. Nào Trảm mã trà, Vân vũ trà, Nhạn đăng trà, Thiên trụ trà…, trong đó, với tôi, trác tuyệt nhất là trà Trinh nữ. Chuyện rằng: ở ngọn núi Vũ Di (tỉnh Phúc Kiến) vời vợi cao bốn mùa sương phủ, nơi con suối Hổ Báo tuyền chùng chình vắt qua như một dải lụa mềm có một cánh rừng trà cổ thụ chừng mấy chục nghìn cây. Vào mùa xuân, khi hoa mai nở trắng ngần bên ngôi chùa cổ, cũng là lúc những đọt non trà bừng nhú. Những thiếu nữ đồng trinh đẹp dịu dàng như những bông hoa trà khẽ khàng bấm từng búp trà non mởn ấy sao cho không bị dập, bị nát để hương trà không bị ôi oai. Trà sau khi xấy khô được bọc trong những túi lụa mỏng rồi đặt vào… “chỗ kín” của thiếu nữ đồng trinh một đêm để “tẩm” hương. Khi thưởng thức, chính tố nữ ấy sẽ ngậm ngụm trà trong miệng rồi… mớm cho khách ẩm thuỷ trong tư thế… không mảnh vải che thân mà không được giao hoan. Người Trung Quốc bảo rằng: Đó là phép luyện trường sinh bất lão.

Người Việt ta dường như mở mắt chào đời đã thấy trà, uống trà trọn đời và đến khi về cõi thiên cổ, vẫn được tẩm liệm với trà. Có điều, trong suốt lịch sử uống trà hàng ngàn năm, Việt Nam không có một truyền kỳ nào về trà. Điều này cũng dễ lý giải bởi tâm hồn người Việt bình dị, chân chất. Song điều đó không có nghĩa là chúng ta xuề xoà, thô vụng trong nghệ thuật chế biến, sao tẩm trà. Các ông Tây, bà Tàu đã không ít lần nức nỏm, xuýt xoa trước nghệ thuật ướp trà sen cầu kỳ, tinh tế của những nghệ nhân Hà Nội. Cần phải nói ngay rằng, trong nghệ thuật ướp trà sen, trà mạn hảo được ưa chuộng nhất. Đó là trà Tuyết Shan cổ thụ vùng mạn ngược Hà Giang mọc tự nhiên trên những dãy núi cao từ 800 – 1300 m quanh năm sương phủ. Để chống chọi với khí hậu khắc nghiệt, những búp trà phải gồng sức vươn lên đón nhận từng giọt nắng mặt trời. Chính cuộc chống trả quyết liệt cho sự sinh tồn ấy đã tạo cho trà Tuyết Shan một hương vị đặc biệt, khiến những người sành trà luôn săn tìm, yêu thích. Các nghệ nhân trà Hà Nội trân trọng, nâng niu như một báu vật. Họ chọn lựa những búp trà non, những lá trà bánh tẻ. Cuống và lá trà già bị loại bỏ rồi rửa sạch, cho vào chõ đồ chín. Sau khi phơi khô, họ cho trà vào chum (vại), trên phủ một lớp lá chuối khô, ủ từ… 3- 4 năm cho trà phong hoá bớt chất chát, có độ xốp như giấy bản mà hương vị đặc trưng của trà vẫn lưu giữ.

Khi ướp, người ta rải một lớp trà rồi một lớp gạo sen mỏng, rồi lại một lớp trà, một lớp gạo sen. Cứ thế cho đến khi hết trà. Sau cùng, phủ một lớp giấy bản. Thời gian ướp tuỳ thuộc vào độ ẩm của gạo sen nhiều hay ít, thường từ 18 – 24 giờ. Sau đó, đem sàng để loại bỏ những hạt gạo sen. Sàng loại xong, trà được đóng vào những chiếc túi làm bằng giấy chống ẩm để giữ lấy cả hương sen lẫn hương trà rồi sấy cho đến khi cánh trà khô, hương sen quyện thì bỏ ra. Lại ướp một lần sen thứ hai, thứ ba, thậm chí thứ tư, thứ năm tuỳ thuộc vào sở thích của người thưởng trà đậm hay nhạt. Càng ướp nhiều lần thì hương sen càng quyện vào cánh trà, trà càng thơm. Trung bình, mỗi cân trà ướp cần từ 1000 – 1200 bông sen. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, mỗi cân trà sen được đổi bằng 2 – 3 chỉ vàng mà người sành trà vẫn nao nức lùng mua bằng được.

Với người Hà Nội, uống trà là một thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, người ta phải để vào đó nhiều công phu. Những công phu đó, dần trở thành lễ nghi. Trong ấm trà ngon, người ta thấy phảng phất một mùi thơ và một vị triết lý. Các chân trà nhân từ xưa đã rất chú ý đến nghệ thuật thưởng trà với nhiều loại trà cụ cần thiết để làm sao cho người uống cũng có thể cảm nhận và thể nghiệm giống như các thiền sư. Dùng thìa gỗ múc trà cho vào ấm đất nung nhỏ, được gọi là “Ngọc diệp hồi cung”. Để có được chén trà ngon thì bình trà và tách uống trà phải được làm nóng lên bằng nước sôi. Trà cụ dùng để xúc trà, lâý bã trà đều bằng tre khô hoặc gỗ thơm. Khi châm nước lần một gọi là “cao sơn trường thuỷ” rồi chắt ngay ra. Đây là thao tác “tráng trà” nhằm loại hết bụi bẩn và cho trà khô kịp thấm không nổi lềnh bềnh. Lần thứ hai đổ nước vào ấm gọi là “hạ sơn nhập thuỷ” nên đổ nước cao, tràn miệng bình để khi đậy nắp lại, bụi trà tràn ra hết, rồi dội nước sôi lên nắp để giữ nhiệt độ cao nhất cho ấm trà. Nước hai chính là nước ngon nhất được tạo ra trong vòng 1 – 2 phút , có hương vị đượm đà, thơm tho níu quyến . Khi rót trà phải chuyên đều các chén sao cho nồng độ trà như nhau bằng cách kê khít miệng chén lại và đưa vòi ấm quay vòng. (Cách phổ biến trong truyền thống là rót ra “chén tống”rồi chia đều ra các “chén quân”. Cách này ngày nay ít dùng vì phần làm nguội trà, phần hương trà phôi pha.)

Dâng chén trà theo đúng cách là ngón giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón chỏ và cái đỡ miệng chén gọi là “Tam long giá ngọc”. Người dâng trà và người nhận trà đều phải cung kính cúi đầu. Trước khi uống, đưa chén trà sang tay trái, mắt nhìn theo, sau đó đưa sang phải “du sơn lâm thuỷ”. Khi uống, cầm chén trà quay lòng bàn tay vào trong, dâng chén trà lên sát mũi để thưởng thức hương trà trước, sau đó tay che miệng nháp nháp từng ngụm nhỏ nhẹ. Tay áo các quan lại phong kiến thường rất rộng cũng một phần vì lẽ dùng che miệng khi uống trà là vậy. Che miệng khi ăn, uống, cười trong chèo, tuồng, trong đời sống người Việt xưa chính là một hành vi văn hoá. Người uống cũng phải chậm rãi mím miệng nuốt khẽ cho hương trà thoát ra đằng mũi và đồng thời đọng trong cổ họng, nuốt tý nước bọt lần một, lần hai, lần ba để cảm nhận.

Ngoài cách uống trà trong gia đình, người Hà Nội xưa còn có các hình thức Hội trà, uống trà thưởng hoa đầu năm, uống trà thưởng hoa quý và uống trà ngũ hương.

Hội trà là hình thức tụ họp cùng thưởng trà khi có trà ngon hay dịp đặc biệt của các cụ.

Thưởng trà đầu xuân là thói quen của riêng các bậc tao nhân chốn kinh thành xưa. Trước Tết, đích thân các cụ đi chọn mua hoa đào, cúc, mai trắng, thuỷ tiên ở tận vườn, chuẩn bị loại trà ngon nhất. Sáng mồng một, con cháu dành riêng cho cụ những giây phút đầu tiên để tịnh tâm và ngắm hoa thưởng trà, sau đó mới là cả đại gia đình cùng ngồi quanh bàn trà chúc thọ cụ và nghe lời dặn dò.

Uống trà thưởng hoa quý như hoa quỳnh, hoa trà cũng là cái thú của nhiều người Tràng An. Đó cũng là hình thức hội trà quanh chậu hoa quý vào tối hoa mãn khai của những người cao tuổi, đàm đạo thế sự, văn chương và dặn dò lớp con cháu.

Trà ngũ hương chỉ giới hạn cho năm người. Khay uống trà ngũ hương phải thửa 5 chỗ trũng để 5 loại hoa đang độ đượm hương nhất: cúc, sói, nhài, sen, ngâu. úp các chén kín hoa, bưng khay để lên nồi nước sôi cho hương hoa bám vào lòng chén. Pha trà mạn ngon và rót đều vào từng chén, mỗi người tham gia sẽ phải đoán hương trà trong chén của mình và cùng nhận xét. Sau mỗi chén trà, người chủ trà lại hoán vị hương để ai cũng được thưởng thức hết cái tinh tuý của hội trà ngũ hương.

Nhà văn Nguyễn Tuân sinh thời có nói: “Chỉ có người tao nhã, cùng một thanh khí mới có thể cùng nhau ngồi bên một ấm trà”. Vậy người bạn tri kỷ cùng ta uống trà, hẳn phải là người bạn hiền, chỉ cần đưa mắt là hiểu lòng nhau, lấy gì mà mua cho được ở cõi đời còn lắm bon chen và phiền muộn này. Có duyên phận lắm mới được cùng nhau hạnh ngộ với người tri kỷ bên chén trà quý là vậy.

Hoàng Anh Sướng

Tinh tế trà sen Việt Nam

Tinh tế trà sen Việt Nam

Trà ướp hoa là hội tụ đỉnh cao của cái tinh tế, phong cách tao nhã, thanh lịch và sành điệu của người Tràng An.

Tinh tế trà sen Việt Nam

Tinh tế trà sen Việt Nam

548178_489891201035739_2097502748_n

 

Tinh tế trà sen Việt Nam
Trà Sen

Muốn có trà ngon người ta phải ướp từ những loại trà khô như là trà mộc (black tea), trà xanh (green tea) hay trà Ô long có màu nâu sẫm. Ướp trà là một kỳ công phối hợp tinh tế giữa phong cách tao nhã, sành điệu và “ỷ thuật vi tế”. Ướp trà thường dùng các loại hoa sen, hoa cúc, hoa ngâu, hoa lài, hoa sói. Mỗi loại hoa làm cho trà có một hương vị khác nhau. Ðôi khi người ta ướp với cam thảo hay sâm để khi uống trà cảm thấy vị ngọt ở cổ họng và tinh thần phấn chấn.
Ướp sen

Trà ướp hoa là hội tụ đỉnh cao của cái tinh tế, phong cách tao nhã, thanh lịch và sành điệu của người Tràng An. Trong đó, hoa sen là thứ hoa thông dụng nhất mà cũng quý nhất, ướp trà ngon nhất. Ðiều này được nhiều nhà trà học lý giải “bởi quan niệm về hoa sen trong đạo Phật của người Á Ðông. Hoa sen vốn dĩ là thứ hoa rất thanh cao mọc lên từ bùn lầy, điều đó tương tự như chữ Danh mà người quân tử rất coi trọng vậy”. Hương hoa sen là những gì tinh tuý của trời đất tụ lại. Vì vậy, trà ướp sen là vật phẩm quý giá, xưa kia chỉ dành cho những hàng vương tôn công tử và những gia đình quyền quý. Còn theo Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791) thì “Cây sen hoa mọc từ dưới bùn đen mà không ô nhiễm mùi bùn, được khí thơm trong của trời đất nên củ sen, hoa sen, tua, lá… đều là những vị thuốc hay”.

Sen để ướp trà phải dùng loại sen bách hoa, phía bên trong các cánh hoa lớn có hàng trăm cánh nhỏ ôm sát vào nhau, che úp nhụy hoa, gạo sen và gương sen. Mua sen bách hoa về,(hoa sen phải hái trước lúc bình minh, phải lựa những ngày nắng ráo, tránh sau ngày mưa ) bóc từng lớp cánh sen, kế đến tẽ những hạt trắng ở đầu nhụy hoa (gạo sen), trộn chung với trà, ủ trong vò kín từ một đến hai ngày cho gạo sen quắn lại rồi mới đưa trà lên sấy khô bằng than hay bằng nước nóng cách thuỷ. Phải giữ cho nhiệt độ vừa phải và điều hoà để không mất mùi hoa. Ứơp một kí-lô trà phải dùng tới hàng trăm bông sen, và phải làm nhiều lần như thế mới dùng được. Công phu là thế nên một ấm trà sen có thể uống hàng chục tuần trà. Nước trong rồi, hương sen còn ngan ngát. Uống một tách trà vào thấy tinh thần tỉnh táo, thoải mái làm sao! Nhiều nghệ nhân về trà còn tiết lộ: “Muốn có trà ngon, chỉ hái những búp trà loại “một tôm hai lá” và phải hái nhanh, nhẹ nhàng, không để búp bị nhàu nát. Loại trà ngon là sau khi sao phải còn lại một lượng nước nhất định từ 5-7%. Trà hái xong không ướp hương ngay mà phải để trong chum đất, trên ủ lá chuối, để từ 2-3 năm nhằm làm giảm độ chát và để cánh trà phồng lên hút được nhiều hương. Một cân trà ướp hương sen cần có 800-1000 bông sen, mà phải đúng loại sen ở đầm Ðồng Trị, Thuỷ Sứ, làng Quảng Bá, Hồ Tây hoặc là sen ở hồ Tịnh Tâm-Huế (sen ở đây to và thơm hơn sen những nơi khác).”
Sen sớm
Cụ Nguyễn Tuân ca ngợi kiểu ướp hương trà bằng cách bỏ trà mạn vào bông sen mới nở, buộc lại. Thực ra, cách chơi ngông đó của Cụ Nguyễn vừa rất cầu kỳ vừa không để trà được lâu (hay bị mốc) và hay bị mất hương, chỉ có thể dùng cho lượng trà rất ít và phải uống ngay.

Danh trà truyền thống của người Việt xưa

Danh trà truyền thống của người Việt xưa

Trải qua hàng ngàn năm người Việt đã tạo ra hàng chục loại danh trà đi cùng năm tháng thăng trầm của đất nước.

Danh trà truyền thống của người Việt xưa

Danh trà truyền thống của người Việt xưa

487455_489886671036192_1296326317_n

 

Trải qua hàng ngàn năm người Việt đã tạo ra hàng chục loại danh trà đi cùng năm tháng thăng trầm của đất nước. Nhiều danh trà ngon đặc sắc đã tạo nên huyền thoại trong lòng người Việt.

Danh trà thất truyền

1. Trà Tước Thiệt: Dấu ấn loại danh trà thất truyền đầu tiên phải kể đến hiệu trà Tước thiệt (mỏ sẻ). Đây là loại trà búp, sau chế biến khô quăn thanh nhỏ như lưỡi chim sẻ. Trà Tước Thiệt là loại danh trà xưa của Đại Việt rất thơm ngon từng được biết đến và ghi nhận trong cuốn Anam Vũ Cống của Nguyễn Trãi: “Tước Thiệt trà cánh nhỏ mà cong như lưỡi con chim sẻ là một trong vài loại trà nổi danh kim cổ”. Hay trong tác phẩm của Dương Văn An cuốn Ô châu cận lục có vài dòng ghi rõ về danh trà này: “Trà ở huyện Kim Trà nay là Hương Trà Huế tên gọi lưỡi sẽ (tước thiệt) trồng tại những đồi núi An Cưu, giải thoát, trừ phiến, chữa thủy đứng đầu trăm loại thảo dược, tính linh diệu”.

2. Trà Hồng Mai: Trà Hồng Mai được Nguyễn Trãi nhắc đến ở bài Ngôn Chí trong Ức Trai thi tập:

… Cõi tục chè thường pha nước tuyết

Tìm thanh trong vắt tịn chè mai

Trà Hồng Mai là loại trà được chọn chế biến từ những gốc mai già, cắt khúc chẻ răm nhỏ pha nước sôi có sắc hồng nhạt đem sao, vị thanh đậm, ngọt hậu rất đặc biệt. Thường dân gian còn gọi với cái tên là “lão mai trà”. Đây là một loại thiền trà phổ biến ở các chùa miền Bắc. Trong thơ Thúy Kiều thi hào Nguyễn Du đã dùng chén trà thiền để giúp nàng Kiều bình tĩnh lại, bỗng chốc tỉnh táo và trở nên cao thượng bỏ qua cho họ Thúc:

Thiền trà cạn nước Hồng Mai

Thong dong nối góc thư trai cùng về.

3. Trà Mạn Hảo: Loại danh trà thất truyền. Cũng mới đây thôi, danh trà Mạn Hảo còn được ví như là một trong ba món quốc túy của đấng nam nhi Việt Nam thế kỷ 19-20.

“Làm trai biết đánh tổ tôm

Uống trà Mạn Hảo ngâm nôm Thúy Kiều

Trà Mạn Hảo là một danh trà quý và đắt tiền của tầng lớp quý tộc trong xã hội Việt Nam đương thời. Sau này dân gian gọi chung là chè Mạn vừa có ý nghĩa là chè Mạn Hảo vừa mang ý nghĩa là chè mạn ngược vùng Tây Bắc Việt Nam. Chè Mạn ngược là loại chè rừng, thân thuộc vùng Hà Giang-Lai Châu-Yên Bái được đóng thành những bánh gói giấy đỏ giữa có đóng nhãn đề năm sản xuất. Trà thường được chọn những búp non, lá trà bánh tẻ rửa sạch, cho vào chõ đồ chín. Sau khi đóng bánh, phơi khô, họ cho trà vào chum, trên phủ một lớp lá chuối khô, ủ từ 3 – 4 năm cho trà phong hóa bớt chất cát hết mùi ngái, có độ xốp mới đem ra dùng.

4. Trà Trinh nữ: Trà Trinh nữ còn gọi là trà Tố nữ rất thịnh hành ở vương triều Lê-Trịnh và đạt tới thời điểm cực thịnh của Trà Việt.

5. Ngự trà Cam Khổ: Ở vùng Kim Sơn, Vạn Hội, Lạc Phụng núi Chúa thuộc huyện Hoài Ân, Bình Định có hai loại trà mọc hoang dã trên đồi gò, ven chân núi, rất quý hiếm, cho đến nay không dễ ai thuần hóa đem về trồng trong vườn nhà được. Một loại là trà Cam, và trà Khổ. Trong sách Nước non Bình Định của Quách Tấn có ghi lại rằng: “Ngày xưa, Cam Khổ là loại trà quý, là vật dụng tiến của các chúa Nguyễn. Người ta dùng cả hai loại trà Cam và Khổ để tiến vua”.

Tên trà Cam Khổ là cả một câu chuyện. Có hai cách lý giải: người thì bảo là do vị trà ngòn ngọt đăng đắng mà thành danh, lại có người bảo rằng do nghề phu trà chịu nhiều khổ ai mà ghi dấu thành tên.

Trà Cam lá thường nhỏ, thoảng vị đường phèn thanh ngọt, nên mới gọi là cam (ngọt), đây chính là chè Vằng ở Định Sơn, Cam Lộ – Quảng Trị.

Trà Khổ lá to, xanh, dày và cứng, đọt non nhân nhẩm đắng, hãm nước uống vị rất đắng. Bởi thế nó mới có tên là Khổ (đắng). Người xưa thường dùng rễ trà Cam để hồi sức cho phụ nữ sau khi “khai hoa nở nhụy” và dùng trà Khổ để chống say, tỉnh rượu. Trà Cam Khổ được cổ nhân chế biến theo công thức 2 ngọt 1 đắng mà thành. Trà Cam Khổ còn phản ánh hàm ý nghĩa về sự quý hiếm, phải vất vả gian khổ, phải “nếm mật nằm gai” băng rừng, vượt núi mới kiếm được thứ trà này.

Phong cách uống trà Việt Nam

Phong cách uống trà Việt Nam

Phong cách uống trà của Việt Nam không hề bị ảnh hưởng của Tàu hay Nhật như quan niệm cuả nhiều người.

Phong cách uống trà Việt Nam

Phong cách uống trà Việt Nam

224409_489883864369806_251215092_n

 

Người Nhật có lối uống trà rất khác biệt với các dân tộc khác, khi uống trà họ phải tuân giữ một vài nghi thức nên gọi là Trà đạo. Ðối với Trung Hoa và Việt Nam, lối uống trà chỉ được coi như là nghệ thuật mà thôi, nghệ thuật thì không cần phải khuôn sáo hay công thức.

Phong cách uống trà của Việt Nam không hề bị ảnh hưởng của Tàu hay Nhật như quan niệm cuả nhiều người. Nghệ thuật uống trà phản ảnh phong cách văn hoá ứng xử của người Việt Nam.Trong gia đình truyền thống, người nhỏ pha trà mời người lớn, phụ nữ pha trà mời các ông. Người ta có thể uống trà trong yên lặng suy gẫm như để giao hoà với thiên nhiên, như để tiếp cận giữa con người với môi trường, như để nhận xét, để thảo hoạch những dự án phúc lợi cho đại chúng. Khi đã trở thành thói quen rồi thì khó mà quên được.Trà đồng nghĩa với sự tỉnh thức, sáng suốt, mưu cầu điều thiện, xa điều ác.

Theo truyền tụng, hình thức uống trà được khởi nguồn từ các chùa chiền gọi là Thiền Trà. Các nhà Sư thường uống trà trước các thời công phu sớm chiều. Cuộc đời trần tục nhiều hệ lụy, trà giúp cho con người tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục, xoá tan cảm giác tĩnh mịch chốn thiền môn. Ngày nay chỉ còn ngôi chuà Từ-Liêm ngoài Bắc là giữ được nghi thức Thiền Trà này.

Sau đó, trà được ưa chuộng trong giới quý tộc, trong cung đình như là một bằng chứng của sự quyền quý, để phân biệt với giai cấp thứ dân trong xã hội phong kiến.

Kế đến, trà chinh phục các tầng lớp trung lưu, nhất là các nhà Nho, các chú học trò “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”, mượn bộ ấm trà để bàn luận văn chương thi phú, để tiêu khiển giải trí sau những giờ điên đầu vật vã với tứ thư ngũ kinh.

Do đó, dần dà uống trà là một lối tiêu khiển thanh đạm được tất cả mọi giới ưa chuộng. Pha trà mời khách cũng phải tốn nhiều công phu hàm dưỡng và trở thành một nghi thức. Trà-phong Việt Nam thật là trân trọng ở cách dâng mời nhiều ngụ ý. Dù mưa nắng, sớm chiều, buồn vui khách không thể từ chối một chung trà trong khi gia chủ trang trọng hai tay dâng mời.

Mời trà là một hành vi biểu hiện phong độ thanh nhã và hiếu khách của hầu hết các gia đình Việt Nam. Kỵ nhất là tiếp khách bằng những tách trà còn đóng ngấn hoen ố nước trà cũ. Cũng không bao giờ tiếp khách bằng một ấm nước trà nguội. Tách trà tiếp khách là thể hiện những tình cảm tối thiểu nhất, không thể tuỳ tiện coi thường, dù không nhất thiết phải là loại trà thượng hảo hạng.

Uống trà cũng phải uống từ ngụm nhỏ, để cảm nhận hết cái dư vị thơm ngon cuả trà, cái hơi ấm cuả chén trà tỏa vào hai bàn tay ấp ủ nâng chén trong muà đông tháng giá, làm ấm lòng viễn khách. Uống trà là một cách biểu thị sự tâm đắc, trình độ văn hoá và cảm tình cùng người đối thoại. Trong ấm trà ngon, người cùng uống tâm đầu ý hợp, dưới ánh trăng thanh gió mát, ngắm khung cảnh tĩnh mịch của núi rừng mà luận bàn thế sự thì không còn gì thú vị hơn nữa. Chỉ có những tao nhân mặc khách mới thưởng thức được trọn vẹn cái phong vị cuả cách uống trà này, chứ không phải như kẻ phàm phu tục tử bưng ly trà to tổ bố lên uống ừng ực, người ta gọi là “ngưu ẩm” hay là uống như trâu uống nước.

Ngoài các lối uống trà đơn giản đến cầu kỳ trong các gia đình Việt Nam, các cụ ngày xưa còn có những hình thức hội trà. Ðó là uống trà thưởng xuân, uống trà thưởng hoa, uống trà ngũ hương. Hội trà là tụ họp những người bạn sành điệu cùng chung vui trong các dịp đặc biệt hoặc có hộp trà ngon, hay có một chậu hoa quý hiếm trổ bông, hay trong nhà có giỗ chạp.

Thưởng trà đầu xuân là thói quen cuả các cụ phong lưu, khá giả. Trước tết, các cụ tự đi chọn mua các cành mai, đào, thuỷ tiên hay các chậu hoa lan, hoa cúc ở tận các nhà vườn, và chuẩn bị đầy đủ các thứ cần thiết, nhất là một hộp trà hảo hạng. Sáng mồng một, cụ pha một bình trà và ngồi chỗ thích hợp nhất, thường là giữa nhà. Cụ ngồi tĩnh tâm, ngắm nhìn những đoá hoa nở rộ, thưởng trà. Khoảng 8 giờ sáng, cả đại gia đình sum họp quanh bàn trà chúc thọ cụ và nghe những lời dặn dò của Cụ. Trẻ con thì chờ lì xì.

Uống trà thưởng hoa quý như hoa Quỳnh, hoa Trà, cũng là cái thú của nhiều người. Khi nhà cụ nào có một chậu hoa trổ, cụ chuẩn bị và mời các bạn già sành điệu tới ngắm hoa, luận bàn thế sự, hay dặn dò con cháu.

Hội trà ngũ hương chỉ giới hạn có năm người thôi. Trên khay trà có năm lỗ trũng sâu, dưới các lỗ trũng đó để năm loại hoa đang độ ngát hương : Sen, Ngâu, Lài, Sói, Cúc. Úp chén trà che kín các hoa lại rồi mang khay để trên nồi nước sôi cho hương hoa bắt đầu xông lên bám vào lòng chén. Pha bình trà cho thật ngon rót đều vào từng chén, mỗi người tham dự sau khi uống trà phải đoán hương trà mình đã uống và nhận xét. Sau mỗi tuần trà lại hoán vị các chén trà để mọi người đều thưởng thức được hết tinh tuý của năm loại hoa.