Tìm hiểu về Trà Đạo Nhật Bản

Tìm hiểu về Trà Đạo Nhật Bản

” Theo truyền thuyết Nhật, vào khoảng thời gian đó, có vị cao tăng người Nhật là sư Eisai (1141-1215), sang Trung Hoa để tham vấn học đạo … “

Tìm hiểu về Trà Đạo Nhật Bản

Tìm hiểu về Trà Đạo Nhật Bản

Trà Đạo (茶道) …

 

Trà đạo là một nghệ thuật thưởng thức trà trong văn hóa Nhật Bản, được phát triển từ khoảng cuối thế kỷ 12.
Theo truyền thuyết Nhật, vào khoảng thời gian đó, có vị cao tăng người Nhật là sư Eisai (1141-1215), sang Trung Hoa để tham vấn học đạo. Khi trở về nước, ngài mang theo một số hạt trà về trồng trong sân chùa. Sau này chính Eisai này đã sáng tác ra cuốn “Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký” (Kissa Yojoki), nội dung ghi lại mọi chuyện liên quan tới thú uống trà.
Trà Đạo Nhật Bản
Từ đó, dần dần công dụng giúp thư giãn lẫn tính hấp dẫn đặc biệt của hương vị trà đã thu hút rất nhiều người dân Nhật đến với cái thú uống trà. Họ đã kết hợp thú uống trà với tính Thiền của Phật giáo để nâng cao nghệ thuật thưởng thức trà, phát triển nghệ thuật này trở thành trà đạo (chado, 茶道), một sản phầm đặc sắc thuần Nhật. Từ uống trà, cách uống trà, rồi nghi thức uống trà cho đến trà đạo là một tiến trình không ngưng nghỉ mà cái đích cuối cùng người Nhật muốn hướng tới đó là cải biến tục uống trà du nhập từ ngoại quốc trở thành một tôn giáo trong nghệ thuật sống của chính dân tộc mình, một đạo với ý nghĩa đích thực của từ này. Hiển nhiên ở đây trà đạo, không đơn thuần là con đường, phép tắc uống trà, mà trên hết là một phương tiện hữu hiệu nhằm làm trong sạch tâm hồn bằng cách hòa mình với thiên nhiên, từ đó tu tâm dưỡng tính và nhập định thiền để đạt giác ngộ.

TRÀ VỚI CUỘC SỐNG

 

Từ xưa tới nay, uống trà là một sinh hoạt hàng ngày của nhiều dân tộc trên thế giới. Uống trà không những có lợi cho sức khỏe mà còn là một thú vui tinh thần khi ngồi yên lặng nhâm nhi chén trà, ngẫm nghĩ về cuộc sống nhân sinh. Dần dần, việc thưởng trà trở thành một cách thức giúp con người trở lại với bản tính tự nhiên của mình. Đó là chính là Trà đạo.

Tinh thần của trà đạo được biết đến qua bốn chữ “Hoà, kính, thanh, tịch”.

“Hòa” có nghĩa hài hòa, hòa hợp, giao hòa. Đó là sự hài hòa giữa trà nhân với trà thất, sự hòa hợp giữa các trà nhân với nhau, sự hài hòa giữa trà nhân với các dụng cụ pha trà.

“Kính” là lòng kính trọng, sự tôn kính của trà nhân với mọi sự vật và con người, là sự tri ân cuộc sống. Lòng kính trọng được nảy sinh khi tinh thần của trà nhân vươn tới sự hài hòa hoàn toàn.

Khi lòng tôn kính với vạn vật đạt tới sự không phân biệt thì tấm lòng trở nên thanh thản, yên tĩnh. Đó là ý nghĩa của chữ “Thanh”.

Khi lòng thanh thản, yên tĩnh hoàn toàn thì toàn bộ thế giới trở nên tịch lặng, dù sống giữa muôn người cũng như sống giữa nơi am thất vắng vẻ tịch liêu. Lúc đó, thế giới với con người không còn là hai, mà cả hai đều vắng bặt. Đó là ý nghĩa của chữ “Tịch”.

Bốn chữ “Hòa, Kính, Thanh, Tịch” như một thước đo bản thân vị trà nhân đang ở vị trí nào trên con đường Trà đạo.

Vậy thì “Trà đạo là gì?”, đã có ai trong những người quan tâm đến trà đạo chúng ta đã từng đặt câu hỏi này cho mình hay chưa.

Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cùng đi từ quá trình hình thành của trà đạo cho đến các dụng cụ được sử dụng trong pha trà; từ trà thất cho đến cách pha trà; từ cách phục vụ trà cho đến cách uống trà… Tất cả làm nên việc thưởng trà của chúng ta được sống động và trọn vẹn.

Lịch sử

Giai đoạn 1

 

Vào thế kỷ thứ 8 – 14 trà bắt đầu được sử dụng phổ biến trong tầng lớp quý tộc. Lúc đó có các cuộc thi đấu đoán tên trà. Văn hóa uống trà giai đoạn đó giống như những trò chơi xa xỉ và các người quý tộc rất thích dụng cụ uống trà Trung Quốc.Trong hoàn cảnh như vậy, có một nhà sư tên là Murata Juko tìm thấy vẻ đẹp giản dị trong văn hóa uống trà. Ông đến với trà với tư cách là một nhà sư, rất coi trọng cuộc sống tinh thần. Trà đạo ra đời như thế.

Juko yêu cái đẹp “wabi” và “sabi”.

Tuy nhiên, trà đạo vẫn còn chưa được nhiều người biết đến, người kế nghiệp tiếp theo là Takeno Jyoo.

Jyoo quan niệm: “Mặc dù xung quanh chúng ta chẳng có gì cả: không hoa, không lá, chỉ có cảnh hoàng hôn chiều tà với một mái nhà tranh.”

Giai đoạn 2

 

 

Trà Đạo Nhật Bản

 

 

Sau Jyoo, thế kỷ 16, Senno Rikyu mới là người đưa ra bước ngoặt quan trọng, tạo nên một nền văn hóa trà đạo trong giới võ sĩ (samurai). Senno Rikyu đã là thày dạy trà đạo cho Oda Nobunaga (Shogun – người đứng đầu giới võ sĩ) của thời Azuchi. Sau khi Oda Nobunaga chết, Toyotomi Hideyoshi lên (thời Momoyama) thì Senno Rikyu tiếp tục dạy cho ông này. Như vậy, hoạt động của Senno Rikyu khá phổ biến và có ảnh hưởng sâu rộng trong tầng lớp võ sĩ, ảnh hưởng mạnh đến chính trị thời đó.

Cùng thời với Senrikyu, cũng có hoạt động của Yabunnouchi Jyochi (học trò của Takeno Jynoo). Yabunouchi Jyochi là trà sư của chùa Honganji, ngôi chùa lớn nhất ở Nhật Bản. Theo Yabunouchi, Trà đạo nằm trong các hành động của bản thân.

Ngoài ra còn có nhiều trà nhân khác nữa.

Ngày xưa, các trà nhân pha trà theo cách riêng của mình. Nhưng sau thế hệ thứ nhất, người ta đã bắt đầu tạo ra cách pha trà chung. Nếu các phái khác nhau cũng chỉ khác nhau ở trên bề mặt nghi thức pha trà, còn đạo là duy nhất.

 

Giai đoạn 3 – Trà đạo trong thời hội nhập

 

Trà đạo hiện nay cũng dần được biến đổi, trong mỗi phòng trà đều có một số bàn ghế gỗ cho khách ngồi.

Nếu như khách không thể quen với kiểu ngồi truyền thống của Nhật thì sự biến đổi này cho phép người phương Tây với thói quen hiện đại cũng có thể tham gia được những buổi trà đạo mà không hề làm mất đi không khí tôn nghiêm trong phòng uống trà.

Dần dần, trà đạo được đưa vào phòng khách theo phong cách phương Tây. Người đến không cần phải gò bó theo kiểu ngồi hay cách uống trà của người Nhật vẫn có thể mặc áo theo kiểu Tây phương.

 

 

TRÀ THẤT

 

 

Trà Đạo Nhật Bản

Trà Thất

 

Trà thất là một căn phòng nhỏ dành riêng cho việc uống trà, nó còn được gọi là “nhà không”. Đó là một căn nhà mỏng manh với một mái tranh đơn sơ ẩn sau một khu vườn. Cảnh sắc trong vườn không loè loẹt mà chỉ có màu nhạt, gợi lên sự tĩnh lặng. Trong khu vườn nhỏ có thể bố trí một vài nét chấm phá để tạo nên một ấn tượng về một miền thung lũng hay cảnh núi non cô tịch, thanh bình. Nó như một bức tranh thủy mặc gợi lên bầu không khí mà Kobiri Emshiu đã tả:

Một chòm cây mùa hạ,
một nét biển xa,
một vừng trăng chiếu mờ nhạt.

Trên con đường dẫn đến trà thất có một tảng đá lớn, mặt tảng đá được khoét thành một cái chén đựng đầy nước từ một cành tre rót xuống. Ở đây người ta rửa tay trước khi vào ngôi nhà nằm ở cuối con đường, chỗ tịch liêu nhất:

Tôi nhìn ra,
không có hoa,
cũng không có lá.
Trên bờ biển,
một chòi tranh đứng trơ trọi,
trong ánh nắng nhạt chiều thu.

Ngôi nhà uống trà làm bằng những nguyên liệu mong manh làm cho ta nghĩ đến cái vô thường và trống rỗng của mọi sự. Không có một vẻ gì là chắc chắn hay cân đối trong lối kiến trúc, vì đối với thiền, sự cân đối là chết, là thiếu tự nhiên, nó quá toàn bích không còn chỗ nào cho sự phát triển và đổi thay. Ðiều thiết yếu là ngôi trà thất phải hòa nhịp với cảnh vật chung quanh, tự nhiên như cây cối và những tảng đá. Lối vào nhà nhỏ và thấp đến nổi người nào bước vào nhà cần phải cúi đầu xuống trong vẻ khiêm cung, thậm chí vị samurai luôn luôn mang theo cây kiếm bên mình, cũng phải để lại nó ở bên ngoài. Bước vào phòng trà là một bầu không khí lặng lẽ cô tịch, không có màu sắc rực rỡ, mà chỉ có màu vàng nhạt của tấm thảm rơm và màu tro nhạt của những bức vách bằng giấy.

 

TOKONOMA

 

Trà Đạo Nhật Bản

Tokonoma

 

Tokonoma là góc phòng được trang trí, hơi thụt vào trong so với vách tường. Tokonoma là một trong bốn nhân tố thiết yếu tạo nên phòng khách chính của một căn nhà. Bản thân từ “tokonoma” ám chỉ góc phòng thụt vào hoặc căn phòng có góc như nó.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Tokonoma

 

Có một vài dấu hiệu để biết đâu là tokonoma. Thông thường, có một khu vực để treo tranh hoặc một bức thư pháp. Hay có một cái giá nhỏ để đặt hoa, có thể là một chiếc bình. Bạn có thể nhìn thấy một hộp hương trầm. Một gia đình truyền thống Nhật có nhiều cuộn giấy và các vật dụng khác mà họ trưng bày ở Tokonoma tuỳ từng mùa hoặc ngày lễ gần nhất.

Khi bước vào một trà thất, bạn thường quỳ và ngắm tokonoma một lát. Bạn cũng có thể nói về các vật được trưng bày. Thiền gây ảnh hưởng đến tokonoma lẫn chabana… chỉ khi chúng ta chú tâm đến những chi tiết nhỏ bé trong cuộc sống thì mới thấy vẻ đẹp trong những điều giản dị.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Chỉ dẫn về Tokonoma

CHABANA

 

 

Trà Đạo Nhật Bản

Chabana

 

Chabana (茶花) là phong cách cắm hoa đơn giản mà thanh lịch của Trà đạo, có nguồn gốc sâu xa từ việc nghi thức hoá Ikebana. Cha, theo nghĩa đen là trà và ban là biến âm của từ hana có nghĩa là hoa.

Phong cách của chabana là không có bất kỳ qui tắc chính thức nào để trở thành chuẩn mực cho nghệ thuật cắm hoa trong trà thất.

Hoa thể hiện tình cảm của chủ nhà trong một buổi tiệc trà. Hoa được cắm trong một chiếc bình hoặc một cái lọ mộc mạc với phong cách thay đổi theo mùa.

Lọ hoa có thể được làm từ bất kỳ chất liệu nào, từ đồng, gốm tráng men hoặc không tráng men, cho đến tre, thuỷ tinh và các vật liệu khác.

Khi cắm hoa cho một bữa tiệc trà, đầu tiên chủ nhà phải chọn hoa và lọ tương ứng. Hoa trong phòng trà gợi được cho người ngắm cảm giác như đang đứng giữa khu vườn tự nhiên.

 

KANEJIKU

 

Trà Đạo Nhật Bản

KANEJIKU

 

Kakejiku là một tác phẩm bằng tranh treo trên tường, ở kotonoma, hay còn gọi là thư pháp. Thư pháp có thể là một bức tranh, có thể là một câu nói mang ý nghĩa nào đó như “Bình thường tâm là đạo”, hoặc đơn giản chỉ là một chữ “VÔ”.

 

Trà Đạo Nhật Bản

KANEJIKU

 

Trà Đạo Nhật Bản

KANEJIKU

 

CÁC DỤNG CỤ PHA TRÀ

 

1. Kama (nồi đun nước):

quai xách rời sẽ tháo ra khi vào buổi trà đạo. Nước từ ấm sẽ được lấy ra bằng Shaku để rót vào bát.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Kama

 

2. Tetsubin (ấm đun nước):

thích hợp với kiểu pha trà rót nước trực tiếp từ ấm đun vào bát.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Tetsubin

 

Trà Đạo Nhật Bản

Tetsubin

 

Trà Đạo Nhật Bản

Tetsubin

 

3. Chawan (bát trà):

Có thể nói là thứ đặc trưng và giành được sự yêu quý vào quan trọng nhất của Trà đạo. Có rất nhiều loại bát khác nhau, nhưng với những trà nhân Nhật Bản xưa kia cũng như ngày nay, bát trà gắn liền với tên tuổi của họ, bên cạnh sự yêu thích về nghệ thuật còn là sự ngưỡng mộ về lịch sử và văn hoá. Bát trà được các trà nhân yêu quý như chính bản thân họ vậy. Bởi vậy việc một bát trà có giá trị bằng một căn nhà đối với người hiểu về bát, cũng không có gì là lạ.

Bát trà được làm bằng gốm. Chất liệu được ưa thích không phải là những chiếc bát tròn vẹn bóng bẩy kiểu Trung quốc, mà là những chiếc bát thô sơ giản di, và hơn nữa, là được làm bằng tay. Chiếc bát trà thậm chí lại không tròn, phù hợp với lý tưởng của trà đạo là “ tìm kiếm sự toàn vẹn trong cái bất toàn”.

Ở Nhật bản có rất nhiều dòng gốm nổi tiếng theo từng vùng, nhưng với các trà nhân Nhật Bản thì : “nhất Raku, nhì Hazi, ba Karatsu”.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Chawan

 

 

 

Trà Đạo Nhật Bản

Chawan

 

Hagiyaki:

lò gốm tại huyện Yamaguchi của Nhật. Bát của Hazi có đặc trưng là màu hồng nhạt, chân đế thường được cắt hình tam giác.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Chawan

Karu:

do dòng họ Karu tại Kyoto sản xuất, bằng tay và không dùng bàn xoay. Đặc trưng là được phủ men đậm hoặc nâu đỏ, xương gốm mềm và thô.

Karatsu:

sản xuất tại saga và nagasaki trong đảo Kyashu. đặc trưng là xương gốm phủ áo trắng, trang trí hoa văn đơn giản bằng sắc màu nâu.

 

 

Trà Đạo Nhật Bản

Chawan

 

Ngoài ra có rất nhiều loại bát khác nhau, mang những đặc trưng riêng đã được đặt tên như: Mishima, Kohiki, Hakeme, Tenmokuyu… Gốm sứ Việt nam rất được các trà nhân ưa chuộng ngay từ thế kỉ 15, là thế kỉ phát triển rực rỡ của trà đạo.

Khi đưa một bát trà cho khách, nếu bát có khắc hoa văn thì hoa văn luôn được hướng về phía khách chính để tỏ lòng hiếu khách. Đây cũng là một trong những nét lễ nghi đặc trưng của trà đạo: “Hoà- kính- thanh- tịnh”.

4. Natsume (hộp đựng trà):

làm từ gỗ sơn mài, cũng mang những nét đặc trưng riêng của từng trà nhân giống như bát vậy. Natsume có thể được trang trí hoa văn bên ngoài và trong buổi trà đạo hoa văn này được quay về phía những nơi trang trọng nhất. Trà trước khi cho vào natsume phải được lọc cẩn thận để không vón cục ảnh hưởng đến hương vị. Trà trong natsume được trình bầy theo hình núi Phú-sỹ, vốn là biểu tượng của Nhật bản.

 

 

Trà Đạo Nhật Bản

Natsume

 

5. Chasen (dụng cụ pha trà):

Được làm bằng tre một cách công phu và cũng là một dụng cụ đặc trưng cho cách pha trà bát, hay trà bột. Chasen mới và các tua tre phải đều, thì bát trà pha ra mới ngon, đều và đẹp mắt.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Chasen

 

6. Chasaku (thìa xúc trà):

Làm bằng tre, dùng để múc trà ra bát. Giữa cán chasaku là khấc tre, và người cầm chasaku không được cầm quá khấc này, để đảm bảo tính vệ sinh của trà. Cũng là một nét đặc trưng trong tính lễ nghi của Trà đạo.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Chasaku

 

7· Chakin (khăn lau):

Làm từ vải trắng, để lau bát trước khi pha trà. Chakin luôn phải sạch và ẩm, nhưng không được ướt, và phải là màu trắng.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Chakin

 

8. Shaku (gáo múc nước):

Dùng để múc nước nóng từ kama vào bát, hoặc châm thêm nước lạnh từ ngoài vào nồi. Các quy tắc sử dụng shaku đã tạo ra những nét hấp dẫn rất đặc trưng cho kiểu pha trà này, từ cách cầm dụng cụ, cách di chuyển đến tiếng nước róc rách chẩy từ shaku xuống bát trà.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Shaku

 

9. Futaoki:

Đi kèm shaku là futaoki, là dụng cụ kê nắp kama khi mở.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Futaoki

 

10. Kensui:

Là dụng cụ để nước bẩn, có thể làm bằng các chất liệu như tre, gốm… nhưng trong phòng trà luôn nằm ở vị trí sau để đảm bảo sạch sẽ.

 

Trà Đạo Nhật Bản

Kensui

 

BÁNH

Có thể nói bánh truyền thống của Nhật Bản đã phát triển cùng thói quen uống trà của người Nhật. Trong những lễ hội 4 mùa, người Nhật làm những chiếc bánh hình dáng nhỏ nhắn để thể hiện phong vị thiên nhiên, và bánh thường được thưởng thức cùng với trà. Bánh truyền thống nổi tiếng được lấy cảm hứng từ vẻ đẹp thiên nhiên, bốn mùa, từ thơ Waka, Haiku (là các thể thơ cổ của Nhật Bản) và cảm hứng từ quê hương.

 

Cách pha trà của người Nhật Bản

Cách pha trà của người Nhật Bản

” Cũng như người Việt, trà là một thứ đồ uống không thể thiếu được trong cuộc sống của người dân xứ sở hoa anh Đào. Trà đạo được biết đến như một nét văn hóa truyền thống của Nhật bản … “

Cách pha trà của người Nhật Bản

Cách pha trà của người Nhật Bản

Cũng như người Việt, trà là một thứ đồ uống không thể thiếu được trong cuộc sống của người dân xứ sở hoa anh Đào. Trà đạo được biết đến như một nét văn hóa truyền thống của Nhật bản. Tuy nhiên, trà đạo có nhiều thủ tục phức tạp, quí phái và đầy tính nghệ thuật của văn hóa cổ truyền Nhật bản. Bài viết chỉ xin đề cập đến cách thức uống và pha trà trong đời sống thường ngày của người Nhật.

 

Cách pha trà của người Nhật Bản

Phụ nữ Nhật pha Trà

 

Dụng cụ

a. Một cái bình thủy:

để chứa nước sôi. Thường loại dung tích khoảng 2 lít nếu dùng cho 4, 5 người uống trà.

b. Một bình pha trà:

thường bằng đất nung màu đen hay nâu có cán cầm (khác với loại có quai, tuy nhiên đây cũng không phải là điều bắt buộc). Bình pha trà cũng có khi bằng kim khí rất nặng màu đen, có quai xách. Thường bình pha trà có dung tích khoảng 200 ml (bằng trái cam), nếu cỡ khoảng 400ml (bằng trái bưởi) đã được coi là to. Rất hiếm có bình pha trà cỡ lớn hơn 500ml vì làm loãng, mất mùi vị trà và nhất là không đẹp mắt. Với những cỡ bình lớn người ta thường dùng để pha những loại trà hạ phẩm (loại nhiều cuống lá, lá già thô hay loại trà xanh pha trộn với gạo rang…). Loại trà này thường được pha để uống trong các Restaurants hay cho nhân viên lao động trong giờ giải lao của hãng xưởng. Dùng cho gia đình hay tiếp khách thăm viếng, khoảng dưới 5 người, chiếc bình trà cỡ 300ml được coi là tốt nhất.

Hầu hết các bình pha trà xanh của Nhật Bản đều có một tấm lưới rất mịn bằng kim khí bao phía trong vòi ấm hay là một cái phễu lọc bằng lưới nằm sát vào miệng ấm để đựng trà, giữ lại không làm cho bã trà ra tách khi rót trà.

c. Một bộ ly uống trà:

Thường cỡ khoảng 70ml đến 100ml. Hình tròn, hay hình ống, đôi khi có hình dạng méo mó. Thường màu đậm hay nhiều màu in hình hoa trái hay viết những chữ Nhật Bản dạng chữ thảo. Tuy nhiên màu sắc không diêm dúa với màu đỏ gay gắt nhãn giới như trên các đồ sứ của Trung Hoa. Ly tách uống trà của Nhật Bản có màu thanh thoát, êm dịu, dễ thương hơn. Tách uống trà có thể có nắp hay không, nhưng phải có một đĩa nhỏ đễ đỡ tách uống trà.

d. Hộp đựng trà:

Trà xanh bán trên thị trường thường được đóng kín trong một bịch bằng alumin với chân không, hay bằng những hộp bằng kim khí rất kín. Sau khi mua về, bỏ bao bì, trà được đựng trong một chiếc hộp dung tích cỡ 100ml -300ml, bằng kim khí có 2 nắp. Nắp ở phía trong bằng plastic hay bằng kim khí. Nắp phía ngoài hộp, ngoài tác dụng đậy hộp trà cho kín, nhưng còn được dùng như một dụng cụ để đo lường trà chính xác trước khi cho trà vào bình. Người pha trà lấy một chiếc muỗng bằng tre gạt trà vào trong chiếc nắp, tùy theo số người uống để tránh tình trạng nhiều ít không đều.

Ðó là những dụng cụ mà mọi gia đình Nhật Bản đều phải có và được coi như đồ dùng hàng ngày của gia đình. Tuy nhiên trong trường hợp tiếp khách, họ còn mang ra thêm vài dụng cụ khác nữa để tạo vẻ lịch sự và đẹp mắt. Chẳng hạn:

- Một cái bình uống trà thứ hai dùng để điều chỉnh độ nóng của nước pha trà (hình thức cái chén Tống của lối uống trà của Việt Nam hay Trung Hoa ).

- Một cái bình khá lớn bằng đất nung màu đen, thường có nhiều hình dạng khác nhau để đựng nước tráng tách uống trà, bình pha trà hay đựng trà cặn mỗi lần uống trà mới. (giống như cái khay có nan bằng tre để trên một cái chậu để đổ nước dư thừa của Trung Hoa. Hình thức này người Nhật không bao giờ dùng, họ thà đựng vào một cái tách uống trà rồi mang đi đổ chứ không dùng đến vì thô kệch và không đẹp mắt đó!).

- Một cái khay đựng tách và bình trà bằng gỗ (thường màu nâu và hình vuông hay chữ nhật) được che phủ bởi một tấm khăn xinh xắn, sạch sẽ để người pha trà lau khô tách uống trà trước khi rót trà cho khách.

Ngoài ra còn rất nhiều dụng cụ lỉnh kỉnh khác như muỗng lấy trà bằng tre. Cái máng nho nhỏ bằng tre hay gỗ để ước lượng số trà nhiều ít trước khi ruôn trà vào bình… tất cả tùy thuộc vào mức độ quan trọng của cuộc uống trà và sự cầu kỳ tiếp khách của chủ nhân.

Cách pha trà

Gồm những thủ tục cần thiết sau đây:

a. Nước pha trà:

Tuyệt đối không bao giờ lấy nước đang sôi để pha trà, có nghĩa là không thể nào dùng nước đang sôi trong bình ruôn vào bình pha trà. Lý do trông không đẹp mắt và nhất là tất cả các loại trà Nhật Bản (trà xanh, trà bột dùng trong lễ dâng trà (Sado) không bao giờ dùng nước đang sôi! Nước pha trà phải được đựng trong một bình thủy (uống trà thông thường) hay nước được nấu trong một cái ấm kim khí không nắp trên bồn than rất yếu để giữ nước ở khoàng 80-90 độ celcius (trà đạo) .

b. Làm ấm dụng cụ:

Ấm pha trà và tách uống trà được tráng bằng nước sôi trong bình thủy để làm ấm dụng cụ, sau đó dùng khăn lau khô trước khi sử dụng.

c. Cho trà vào ấm pha trà:

Thường với loại trà ngon cỡ trung bình ngươì ta thuờng tính cho mỗi một người khách khoảng một muỗng cà-phê trà xanh. Tuy nhiên nếu dưới 3 người khách, nên cho hơn một tí để tránh quá nhạt. Dĩ nhiên với những người ghiền trà, thích uống đậm lại là vấn đề khác!

d. Pha trà:

Với loại trà xanh cỡ trung bình, người ta thường pha trà 3 lần khác nhau như sau:

- Lần thứ nhất: được pha với nước nóng ở khoảng 60 độ C, để trà ngấm khoảng 2 phút đồng hồ trước khi rót cho khách. Nước sôi từ bình thủy được rót ra một cài bình trà khác (hay chén tống) để giảm nhiệt độ trước khi cho vào bình pha trà. (lý do tại sao sẽ được giải thích ở phần sau).

- Lần thứ hai: pha với nước nóng khoảng 80 độ trong khoảng 30-40 giây, có nghĩa là cho nước vào ấm pha trà, hơi lắc nhẹ và rót ra tách cho khách ngay. Nước cũng được rót qua bình trung gian nhưng mau lẹ hơn để có nhiệt độ mong muốn. (Tuy nhiên, những người pha trà quen thuộc, khéo tay họ có thể điều chỉnh nhiệt độ từ bình thủy rót vào bình pha trà bằng các thủ thuật như rót nước thật chậm, để cao vòi nước trên bình pha trà…)

- Lần thứ ba: Nước pha ở nhiệt độ khoảng 90 độ C, cũng khoảng 30- 40 giây. Nước có thể ruôn trực tiếp từ bình thủy vào ấm trà, vì nước sôi khi qua các giai đoạn rót vào bình thủy, rồi từ bình thủy rót vào ấm pha trà đã có nhiệt độ khoảng 90 độ C.

Với những loại trà ngon đặc biệt, người ta có thể pha trà lần thứ 4 hay lần thứ 5 (cách thức pha như lần thứ 3) mà nước trà vẫn xanh và còn mùi vị. Nhưng những loại trà xanh hạ phẩm, rẻ tiền việc pha trà hơi khác hơn chút đỉnh. Chẳng hạn lần thứ nhất phải ở nhiệt độ cao hơn (70- 80 độ, 2 phút), lần thứ hai (90 độ, khoảng 1- 2 phút) và không có lần thứ 3 vì hết mùi vị rồi. (giải thích ở phần dưới).

e. Lượng nước pha trà:

Người pha trà phải biết ước lượng cho bao nhiêu nước pha vào bình trà, không thể pha trà xanh Nhật Bản bằng cách cứ cho nước vào đầy bình rồi rót cho khách theo lối pha trà của Tàu hay Việt Nam được. Mà phải biết dung tích của tách uống trà và số tách để cho đúng lượng nước để mỗi lần rót trà cho khách phải hết trọn vẹn nước trong bình pha trà. Nếu còn sót lại sẽ làm giảm phảm chất của lần uống trà kế tiếp vì sai nhiệt độ, vì oxy hoá làm mất màu xanh đẹp của trà v.v…

Cách rót trà

Không bao giờ rót trà cho khách một lần đầy tách rồi rót tiếp cho người khách kế tiếp! Làm như vậy sẽ có sự khác biệt về độ đậm nhạt của nước trà trong mỗi tách, cũng như không đều về lượng trong mỗi tách (tách đầu tiên quá nhiều, tách cuối cùng rất ít, quá đậm vì thời gian trà ngấm ra nhiều hơn hay không còn nước cho người kế tiếp!). Vì vậy tất cả các tách của khách đều được để trong khay trà rồi rót theo thứ tự 1, 2, 3, 4… rót lần đầu khoảng 30ml (cho mỗi tách, cỡ lớn 70 ml),sau đó rót lần thứ hai với thứ tự ngược lại 4, 3, 2 ,1 mỗi lần khoảng 20ml (cho mỗi tách có tổng cộng 50ml nước trà) nếu còn dư chút ít trong bình, nên co giãn để phân đều cho các tách. Sau đó mới đưa mời khách.

Chính vì lý do này, người pha trà phải căn làm sao cho đủ (không thiếu, không thừa) cho tất cả khách, mỗi người khoảng 50ml (với loại tách uống trà cỡ 70-80 ml).

Cách uống trà

Khi uống trà xanh Nhật Bản (cũng như uống trà bột trong lễ dâng trà) người Nhật phải ăn một vài loại bánh ngọt để làm gia tăng hương vị của trà. Các lọai bánh này bán rất nhiều trên thị trường thường làm bằng đậu hay bột khoai, bột gạo… Chúng ta có thể thay thế bằng các bánh ngọt khác của Âu Mỹ như bánh ngọt, chocolate… nhưng vẫn không phải là hoàn hảo lắm. Ở Việt Nam có loại bánh đậu xanh (Bảo Hiên Rồng Vàng, Hải Dương…) được coi là rất thích hợp cho việc uống trà xanh.

Trước khi uống trà, người ta ăn vài miếng bánh (phải ăn hết bánh trong miệng rồi mới uống trà, không nên vừa ăn vừa uống). Sau đó thỉnh thoảng ăn thêm bánh và uống trà tiếp theo. Với cách này sẽ làm gia tăng hương vị của trà xanh một cách lạ kỳ.

Uống trà xanh Nhật Bản hoàn toàn khác với lối uống nhâm nhi từng tí một trong lối uống trà Tàu của những vị nhà Nho Việt Nam. Người Nhật uống thành ngụm đàng hoàng để có đủ lượng nước trà thấm vào tất cả các màng niêm của miệng.

Với những loại trà xanh hảo hạng hay trên trung bình, ngươì Nhật cho rằng nước pha trà lần đầu tiên được coi là đậm đà nhất, làm mùi ngon của trà thấm vào vị giác nhiều nhất. Nước thứ hai, có một khoái cảm khác nhờ nhiệt độ nóng của lần pha này, nước trà mất đi khá nhiều vị đặc biệt của trà nhưng lại có mùi rất thơm bốc lên, kích xúc vào khứu giác. Cả hai lần pha trà này được coi là quan trọng nhất và độc đáo nhất của trà xanh Nhật Bản. Với loại trà thượng hạng người ta có thể uống đến lần thứ 4 hay thứ 5 nước trà vẫn xanh và mùi vị vẫn còn . Tuy nhiên loại trà hạ phẩm, người ta bỏ qua lần thứ nhất và bước sang cách pha lần thứ hai hơi đổi khác đôi chút như đã viết ở trên.

Vài tiêu chuẩn để xếp hạng trà xanh

 

Cách pha trà của người Nhật Bản

Trà bột Nhật Bản

 

Rất nhiều người ngoại quốc khi uống trà xanh Nhật Bản thường đưa ra những ý kiến khác biệt nhau, thậm chí có lúc họ thấy rất ngon, có lúc họ thấy rất nhạt nhẽo. Ðó là vì họ không biết cách pha và uống trà. Nhưng điều quan trọng nhất, ít ai để ý đến đó là loại hạng của trà mà họ uống. Trên thị trường trà xanh Nhật Bản có hàng trăm loại khác nhau. Từ loại rất rẻ được đóng gói cỡ 500 grams hay một kg trong bao giấy kính trong suốt dùng cho việc uống trà hàng ngày hay ở các giờ giải lao của hãng xưởng. Ðến những loại cao cấp rất đắt đựng trong những chiếc hộp bằng kim khí nhỏ nhắn cỡ 50ml rất trang nhã đựng trong một hộp bằng gỗ trình bày rất đẹp. Trong đó kèm theo một vài tờ giấy như lụa ghi xuất xứ, lịch sử của sản phẩm có dấu hiệu, ấn ký của nhà sản xuất…

Mục đích của bài viết này nhắm vào loại trà cỡ trung bình trở lên, còn những loại trà hạ phẩm không thể áp dụng được. Sau đây là những tiêu chuẩn để người uống trà xét đoán, lựa chọn một loại trà xanh Nhật Bản để thưởng thức hợp với túi tiền và mục đích của mình.

Giá cả của trà xanh Nhật Bản là một tiêu chuẩn rất ít sai (nếu không muốn nói là hoàn toàn chính xác) khi mua trà xanh Nhật Bản. Với loại trà xanh rẻ tiền, đóng gói sơ sài với bao giấy bóng trong suốt, thường số lượng 500 grams hay một kilô với giá cả khoảng 100 yen- 200 yen (1- 2 USD) cho 100grams, đây là loại trà để uống giải khát mà thôi.

Có thể chia ra 3 hạng trà xanh Nhật bản như sau:

a. Loại trà hạ phẩm:

- Cánh trà thường to, dầy, thô vì được biến chế từ những lá trà già lấy ở phần dưới nhánh cây trà.

- Là sản phẩm dư thừa của loại trà cao cấp, chẳng hạn như cuống của những lá non dùng cho trà cao cấp.

- Có loại lại trộn thêm vào khoảng 20% gạo rang hay lúa mì rang, khi uống có mùi trà xanh hòa trộn với mùi hơi khét của gạo rang.

Loại trà xanh hạ phẩm này thường không có mùi thơm vì nhà sản xuất không cho vào loại trà bột vào. Loại này thường uống trong giờ giải lao của nhân viên lao động trong hãng xưởng hay uống hàng ngày trong những gia đình nghèo Nhật Bản cũng như ở những tiệm ăn uống bình dân. Với loại trà này cách pha trà như đã tả ở trên.

b. Loại trung bình:

Loại này thường được đựng trong các bao bằng alumin hay trong hộp bằng kim khí, có 2 nắp rất kín đáo. Hình thức trình bày rất trang nhã và hấp dẫn. Trọng lượng mỗi gói khoảng 50-100 grams. Loại này có đặc tính sau đây:

- Có rất nhiều hạng khác nhau, thường giá cả từ 1000 yen – 6000 yen/100 grams (9- 50 USD). Trên thị trường thường đóng gói cỡ 100 gram, nhưng nếu đóng gói cỡ cỡ 50grams, thường là loại ngon của hạng này.

- Khi mở gói trà hay hộp trà người ta nhận thấy ngay đặc tính của loại này như sau:

- Có mùi thơm rất dịu

- Cánh trà nhỏ cánh, xanh đậm

- Có màu xanh của bột trà bám trên thành bao alumin hay thành hộp trà, đó là loại trà bột (dùng trong lễ dâng trà ) được nhà sản xuất cho vào để làm gia tăng phẩm chất. Càng nhiều trà bột cho vào càng ngon và càng đắt giá.

-Khi pha trà lần đầu (60 độ, 2 phút) chỉ để hòa tan loại trà bột và một phần nào hương vị của cánh trà mà thôi. Chính vì vậy lần uống đầu tiên này mang đến khẩu vị nhiều hơn là mùi vị. Nhưng ở lần pha thứ 2 và thứ 3 luợng trà bột đã giảm sút nhưng nhờ nhiệt độ nước pha cao (80-90 độ) làm bốc hơi mùi vị thơm của cánh trà. Với loại trà trung bình hạng tốt, người ta có thể pha lần thứ tư vẫn còn mùi vị ngon của trà.Tóm lại lần pha trà đầu tiên để người ta thưởng thức “Vị” của trà, từ lần thứ hai, thứ ba người ta thưởng thức HƯƠNG của trà.

-Ðây là loại trà thường uống hàng ngày ở những gia đình khá giả hay để đãi khách cũng như ở các văn phòng của các vị lãnh đạo hãng.

c. Loại hảo hạng:

Loại này là loại trà biến chế từ lá trà non (Việt Nam gọi là trà búp), sản xuất bởi những hãng trà nổi tiếng, kèm theo in ấn và lịch sử của nhà sản xuất hay loại trà. Trong đó nhà sản xuất lựa chọn những địa danh trồng trà nổi tiếng ở Nhật Bản .

Các nhà sản xuất trà xanh ở Nhật cũng nhập cảng hay có các cơ sở biến chế sơ khởi ở ngoại quốc như ở Trung Hoa, Bắc Việt Nam, Tây Tạng, Bắc Lào… Nhưng theo ý kiến của người Nhật thì những loại trà mà họ mang từ ngoại quốc vào Nhật Bản chỉ để sản xuất loại trung bình hay hơn trung bình một tí mà thôi. Còn những loại trà hảo hạng hay loại trà bột đặc biệt dùng cho các lễ dâng trà đều được biến chế từ các vườn trà đặc biệt ở miền Nam và miền Trung Nhật Bản.

Với loại trà hảo hạng, thường đóng gói rất nhỏ (35- 100 grams), thường 50 grams và được trộn vào rất nhiều trà bột. Người Nhật Bản khi có dịp uống loại trà này họ tuân thủ phương pháp pha trà một cách tuyệt đối để không phí phạm và nhất là hưởng thụ được tất cả hương vị của loại trà xanh quí và đắt tiền. Loại trà này người ta có thể pha đến lần thứ 5 nước trà vẫn thơm ngon và mát dịu. Dĩ nhiên loại này chỉ dùng trong các trường hợp tiếp đãi khách quí và trong các trường hợp đặc biệt mà thôi. Giá cả cũng rất thay đổi tùy theo nguồn gốc của vật liệu và của nhà sản xuất, có thể gần 50 US$ cho một bịch trà khoảng 50 grams! Những người biết thưởng lãm loại trà này họ có nhiều dụng cụ phức tạp, cầu kỳ để cung ứng cho nhã khiếu uống trà của họ.

Vài chú ý căn bản

Khi chúng ta quen biết một gia đình người Nhật hay có dịp du lịch Nhật Bản… Chắc chắn chúng ta sẽ có nhiều dịp được các bạn bè Nhật Bản mời về nhà họ. Chắc chắn món giải khát đầu tiên, gần như không thay đổi của ngươì Nhật là mời chúng ta uống trà xanh và ăn một vài loại bánh ngọt đặc biệt để gia tăng hương vị của trà. Sau đây là vài điều ghi chú mà chúng ta nên chú ý:

- Ăn một vài miếng bánh ngọt trước khi uống trà.

- Khi chúng ta uống hết trà trong tách, không khi nào tự ý lấy bình trà rót vào tách của mình hay lấy bình thủy tự ý pha trà cho mình… Làm như vậy chúng ta đã vô tình làm sai lệch cách pha trà của chủ nhân (vì họ biết rõ loại trà mà họ đãi chúng ta phải pha như thế nào, đặc biệt theo sự chỉ dẫn của nhà sản xuất). Người Nhật, nhất là người phụ nữ (vợ bạn hay các bà mẹ) rất kín đáo và chú ý, thường thường họ nhìn thấy tách uống trà của chúng ta hết và họ tiếp cho chúng ta ngay. Trong trường hợp họ bị vướng bận điều gì mà họ quên, chúng ta chỉ cần khen trà ngon là họ sẽ hiểu ngay và tiếp cho chúng ta tức thì.

- Khi chúng ta pha trà xanh, tuyệt đối không bao giờ lấy nước đang sôi từ chiếc nồi ruôn vào bình trà. Ðây là một sai lầm rất nặng về nguyên tắc và cả về mỹ thuật nữa. Với người pha trà chuyên môn, nguời ta để ấm nước không đậy nắp trên bồn than rất nhỏ, nước nóng ở khoảng 90 độ C, rồi họ dùng một chiếc muỗng bằng tre nhỏ để múc nước pha trà. Tùy thuộc vào lượng nước họ múc ở trong nồi và thời gian họ rót nước nóng vào bình trà để điều chỉnh nhiệt độ của nước pha trà (đây là một trong nhiều xảo thuật trong trà đạo).

 

Tác giả : Thiên Thu Bình

Giới thiệu : Trà Thuần Việt

Tổng quan cách chế biến Trà

Tổng quan cách chế biến Trà

” Để chế biến Bạch trà, những đọt Trà nhỏ và non nhất được hái, hấp ngay lập tức để phòng chống sự lên men, rồi sấy khô … “

Tổng quan cách chế biến Trà

Tổng quan cách chế biến Trà
Tổng quan cách chế biến Trà

Xào chè

 

Cùng một loại nguyên liệu trà, người ta có thể chế biến thành năm loại chính sau đây:

 

Bạch trà (白 茶): là loại thuần chất nhất. Để chế biến Bạch trà, những đọt Trà nhỏ và non nhất được hái, hấp ngay lập tức để phòng chống sự lên men, rồi sấy khô. Người ta chỉ hái những đọt cực non của Trà vào mùa Xuân, khi chúng còn được bao bọc bởi những lông mịn màu trắng. Khi pha, nước của bạch trà có màu trắng. Chính vì vậy mà Trà loại này có tên Bạch trà. Đây là loại Trà ít đòi hỏi chế biến nhất. Căn cứ theo các nghiên cứu khoa học gần đây, Bạch trà chứa đựng nhiều antioxidant chống ung thư nhiều hơn các loại trà khác.

 

Lục trà (绿 茶): là Trà xanh được chế biến từ những lá Trà non, được hấp, đảo đều bằng tay hoặc bằng máy, rồi sấy khô. Nước có màu xanh lục nhạt. Đây là màu nguyên thủy của lá Trà không ủ.

 

Ô-long trà (乌 龍 茶): chế biến từ những lá non, phơi nắng trên những tấm phên bằng tre, vò nát và đựng trong các rổ tre. Mục đích của sự vò nát là để làm hư hại những mạch dẫn nhựa và cạnh lá, tạo ra màu đỏ. Sau đó, lá Trà được ủ ngắn hạn trong vài tiếng đồng hồ, và sao liền tay trên các chảo nóng trong một tuần nhang và sấy khô.

 

Hồng trà (紅 茶): còn gọi là Hắc trà được chế biến tương tự với phương pháp kể trên, ngoại trừ thời gian ủ lâu hơn. Chính sự ủ làm trà biến màu từ xanh lục ra đen. Sau khi sấy khô, trà được pha với các loại trà khác. Đối với quan niệm của người Trung Hoa, hắc trà không được chuộng vì loại trà này được làm từ những lá tạp nham. Tuy vậy, đây là loại trà mà thế giới ưa chuộng trong việc ăn uống điểm tâm. Khi uống, người Tây phương thường pha Hắc trà chung với sữa hoặc đường.

 

Phổ Nhĩ trà (普 洱 茶): là loại Trà cổ xưa và hiếm nhất. Loại trà này chỉ thích hợp cho những người sành uống Trà mà thôi. Cách thức chế biến loại Trà này rất bí mật. Trà được ủ, có khi hai lần và thường được ép thành dạng bánh, hoặc viên gạch. Nước của Phổ nhĩ trà thường có ánh đỏ đậm hoặc nâu.

Nước tốt – Trà ngon

Nước tốt – Trà ngon

” Nước trà ngon hay dở là do thành phần hóa học trong nước dùng để pha trà quyết định. Chlorine trong nước máy làm hại hương vị của trà … “

Nước tốt – Trà ngon

Nước tốt – Trà ngon

Nhất Nước – Nhì Trà ….

 

Nước PHA TRÀ trên lá sen

 

Nếu lửa quan trọng cho một bình trà như thế nào thì yếu tố nước quan trọng không kém. Từ nhiều thế kỷ, nước được xem như yếu tố vô cùng mật thiết cho những ai tin tưởng vào khoa địa lý. Theo lý thuyết của khoa này, sinh khí, hoặc long mạch thể hiện qua sự tinh khiết của nước. Mộ phần đặt đúng nơi có nước tốt, con cháu kẻ quá cố sẽ phát đạt và thịnh vượng. Khi cất nhà để ở ngay trên mạch nước tốt, cư dân sẽ luôn khỏe mạnh và an vui. Suy diễn thêm ra, người xưa tin rằng nước tinh khiết rất cần thiết cho việc uống trà, vì có một tách trà thơm tinh khiết là có đủ sinh khí để điều tâm trong một ngày. Theo Lục Vũ, nước lý tưởng để pha trà là nước suối. Tuy vậy, phải tránh dùng nước suối ở những nơi gần thác nước hoặc chỗ nước chảy xiết. Thứ đến là nước sông sạch. Phạm Đình Hổ (1998) đề cập đến nước suối Hồng Tâm như nguồn nước tuyệt hảo. Nguyễn Tuân (1962) nhận định nước giếng ở trên những vùng đồi núi có hương vị tinh khiết, có thể có cùng nguồn với nước suối. Nước máy không hợp cho trà vì có nhiều tạp chất. Nhất Thanh (1970) cho biết nước mưa không được chuộng vì làm cho vị trà nhạt (tr.136). Tuy vậy, theo kinh nghiệm của một số người uống trà sành điệu, nếu nước mưa được cất lắng vài năm thì vị nước sẽ trở nên tinh khiết, không kém gì phẩm chất nước giếng tốt. Trước khi có sự phát minh ra máng xối, người xưa dùng những bẹ cau, nối với nhau làm máng để lấy nước mưa. Theo Nguyễn Tuân, nước lý tưởng nhất lại là nước lấy từ các hạt sương đọng trên lá sen. Trong bài ‘Chén trà trong sương sớm‘, tác giả viết về niềm tâm sự của cụ Ấm với người con trưởng về vinh dự được hầu thầy dậy học từ thuở còn cắp sách:

Cả ạ, thày cho nước pha trà không gì thơm lành bằng cái thứ nước đọng trong lá sen. Mỗi lá chỉ có ít thôi. Phải gạn vét ở nhiều lá mới đủ được một ấm. Hồi thày còn ít tuổi, mỗi lúc được quan Đốc truyền cho đi thuyền thúng vớt những giọt thủy ngân ấy ở lá sen mặt đầm, thày cho là kỳ thú nhất trong đời một người học trò được thày dạy yêu như con (Nguyễn Tuân 1962, tr.206).

Theo sự phân tích khoa học, nước trà ngon hay dở là do thành phần hóa học trong nước dùng để pha trà quyết định. Chlorine trong nước máy làm hại hương vị của trà. Nước cất (distilled water) làm nhạt trà. Trái lại, khoáng chất càng nhiều trong nước càng làm tăng vị đậm đà của trà. Nước lý tưởng để pha trà nên có alkaline pH (độ kiềm) vào khoảng 7.9. Tuy vậy, hắc trà có vị độc đáo hơn nếu nước chứa ít lượng Volvic (Holy Mountain Trading 2000). Volvic bao gồm các chất khoáng như fluoride, calcium, sulfates, potassium, sodium, nitrates, silica, magnesium, and bicarbonate. Volvic hình thành do nước mưa thấm sâu vào lòng đất, qua các lớp đất đá của núi lửa trong nhiều năm tháng. Càng thấm sâu, nước mưa càng tinh khiết, và chứa nhiều khoáng chất vừa nêu.

Nghệ thuật uống trà xứ Huế

Nghệ thuật uống trà xứ Huế

” Một chén trà nâng mời bạn bè, một chén trà trò chuyện tâm giao, thú uống trà đã trở thành nếp sinh hoạt quen thuộc của người dân Việt Nam … “

Nghệ thuật uống trà xứ Huế

Nghệ thuật uống trà xứ Huế
Nghệ thuật uống trà xứ Huế

Nghệ thuật uống trà xứ Huế

 

Một chén trà nâng mời bạn bè, một chén trà trò chuyện tâm giao, thú uống trà đã trở thành nếp sinh hoạt quen thuộc của người dân Việt Nam cũng như của nhiều dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên, tuỳ theo nếp sống, văn hoá của từng dân tộc mà người ta thưởng thức trà với nhiều phong cách và phương thức khác nhau. Trong chén trà mở đầu câu chuyện chung ấy, với riêng Huế, uống trà là một nghệ thuật với bao sự sắp đặt công phu và cả những nghi thức của một vùng văn hoá .

Trước hết, uống trà theo kiểu cung đình Huế thì phải có một bộ đồ trà đúng kiểu . Không phải chỉ có một bộ đồ trà dùng cho suốt cả 4 mùa mà kiểu cách uống trà của Huế còn thể hiện ở chỗ có bốn loại chén trà dành cho bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Người Huế uống trà theo mùa còn gọi là thời trà. Trong bộ đồ trà ấy, những chén Tống, chén quân, dầm, bàn … đều có những qui định riêng, chức năng riêng. Người Huế uống trà như là một hình thức lễ nghi, dẫu uống một người (độc ẩm), hai người (đối ẩm), ba người, bốn người hay nhiều người (quần ẩm) thì mọi thao tác vẫn được giữ nguyên, kể cả những cung cách pha trà, rót trà, nâng ly trà.

Về nguyên liệu chỉ có hai loại đó là trà và nước. Nhưng chỉ riêng hai nguyên liệu này cũng đã có hàng ngàn trang viết. Sự cầu kỳ, công phu ở đây không bút mực nào tả xiết, từ việc hái chè xanh ở hướng nào, giờ nào, cách ngắt ngọn ra sao, người thiếu nữ hái chè để móng tay dài bao nhiêu, cho đến việc ngâm tẩm, phơi, sao khô là cả những qui trình nghiêm ngặt. Cho nên mới có những câu chuyện về Trảm mã trà, Hầu trà, Trùng điệp trà, Tiên khai trà … Nước để pha trà cũng có những câu chuyện dài, nước mưa hứng từ đâu , nước giếng thì giếng phải sâu như thế nào, nước suối thì lấy ở đoạn nào: đầu nguồn, giữa nguồn hay cuối nguồn …. Sự công phu ấy cho thấy trà không đơn thuần là một thức uống mà người ta đã lồng vào đó bao công sức và tâm huyết để nâng lên thành một nghệ thuật .

Ở Huế còn lưu truyền câu chuyện hứng sương trên lá sen để lấy nước pha trà , còn trà thì được bọc trong hoa sen để có hương thơm tự nhiên. Đun nước để pha trà cũng là một nghệ thuật. Để có một bình trà ngon, nước đun sôi chỉ ở dạng sủi tăm, nước sôi già quá sẽ làm trà nhanh chín, hương thơm không còn. Tinh tế đến như thế thì người uống trà cũng phải có một tâm hồn nhẹ nhàng , luôn hướng đến những vẻ đẹp của đất trời, của con người thì mới thẩm thấu hết hương vị của chén trà. Cũng như nhiều quốc gia uống trà khác trên thế giới, thú uống trà của người Huế có xuất phát từ cung đình. Từ cung đình ra dân gian, tính chất nghi lễ và sang trọng giảm dần nhưng cái hồn của thú thưởng thức trà vẫn được giữ nguyên, bạn bè uống cùng nhau chén trà để tăng thêm tình thân thiết. Dẫu không uống tại lầu son, gác tía như các bậc vua chúa, quan quyền nhưng trong không gian đơn sơ, dân dã, chén trà vẫn được chủ nhân nâng hai tay mời bạn, khách và chủ đều tôn trọng nhau, chén trà vì thế vẫn nặng tình, nặng nghĩa

Trong thú uống trà của người Huế, có một điều đặc biệt là luôn đi kèm với một loại bánh đặc sản của Huế đó là các loại bánh in làm bằng hạt sen, đậu xanh, hoặc bằng bột nếp được gói bằng giấy màu ngũ sắc của Huế. Những ngày Tết, người Huế còn có thêm món mứt gừng. Đón chén trà nóng từ tay bạn hiền trao, nếm lát mứt gừng Kim Long nổi tiếng có vị ngọt ,hơi cay nồng ấm thế là như thấy cả một mùa mùa xuân đang về trong đất trời và trong cả lòng người.

Thú vui uống trà bây giờ đã trở nên phổ biến trong đời sống của nhiều người dân Huế từ già đến trẻ. Người ta tìm thấy một sự tĩnh tâm, lắng đọng khi uống trà. Trong không gian xanh mướt của những ngôi nhà vườn xứ Huế, con người được giải toả khỏi những áp lực công việc, tìm thấy chính mình trong sự tĩnh lặng và sâu sắc mà hương vị chén trà đem lại. Đó chính là ý nghĩa cuối cùng của thú uống trà mà nhiều người đã chiêm nghiệm và thu nhận lại cho chính mình, làm giàu có đời sống tinh thần của bản thân và cũng là của vùng đất Huế.

 

Gốm Việt Nam sử dụng trong Trà Đạo Nhật Bản

Gốm Việt Nam sử dụng trong Trà Đạo Nhật Bản

” Trà đạo hình thành từ thế kỷ thứ IX mà mục đích của nó là tạo ra sự thanh thản, tịnh tâm để thả hồn hòa với thiên nhiên, cảnh vật như quan niệm của Thiền đạo trong Phật giáo … “

Gốm Việt Nam sử dụng trong Trà Đạo Nhật Bản

Gốm Việt Nam sử dụng trong Trà Đạo Nhật Bản

Người Việt chúng ta thường nghe nói đến Trà đạo, thú uống trà tao nhã của người Nhật Bản với những lễ nghi cầu kỳ kéo dài gần 4 giờ đồng hồ cho một cuộc gọi là Chaji. Trà đạo hình thành từ thế kỷ thứ IX mà mục đích của nó là tạo ra sự thanh thản, tịnh tâm để thả hồn hòa với thiên nhiên, cảnh vật như quan niệm của Thiền đạo trong Phật giáo.

Gốm Việt trong TRÀ ĐẠO Nhật

Tách trà An-Nam phổ biến ở Kyoto

  

Vào những ngày đầu xuân đúng lúc hoa anh đào nở rộ từ thượng tuần đến hạ tuần tháng 3 hằng năm, khắp nước Nhật, người ta thường thấy trên đường ngắm hoa bên sườn đồi thoai thoải theo dốc núi là một quán trà với sạp gỗ phủ một miếng vải màu đỏ, bên trên che một chiếc dù rực rỡ dành cho người thưởng ngoạn ghé ngồi dừng chân uống trà trông thật nhàn nhã và phong lưu. Những buổi uống trà này không lệ thuộc vào lễ nghi cho nên “dễ chịu” hơn so với thủ tục của Chaji … Nhìn những cô gái mỹ miều trong bộ kimono sặc sỡ, vén tóc búi cao để lộ chiếc gáy trắng muốt đi lại dịu dàng mời khách uống trà càng làm cho nét xuân thêm rạng rỡ, trở thành điểm nhấn của buổi du ngoạn độc đáo này. Nếu bước chân vào bên trong quán, người ta phát hiện được những bộ sưu tập về dụng cụ pha chế trà, tủ đựng các ấm chén, tách, đĩa quý hàng trăm năm trước được trưng bày, sắp xếp một cách cẩn trọng theo lịch sử phát triển của ngành gốm sứ ở Nhật Bản. Một nét văn hóa vô cùng đặc sắc của dân tộc Nhật rất đáng ngưỡng mộ.

Gốm Việt trong TRÀ ĐẠO Nhật

Thương thuyền Nhật Bản lui tới Hội An

           Trước thế kỷ XIV, nghề gốm Nhật Bản chưa mấy phát triển, chủ yếu vẫn là dựa vào Trung Quốc và Trà đạo cũng còn nằm trong khuôn viên của nhà chùa và các gia đình phú hào, lãnh chúa nhưng đến thế kỷ XV, khi tập quán uống trà ngày càng phổ biến, lan rộng trong đời sống nhân dân thì nhu cầu phát triển về gốm sứ đi kèm cũng trở nên rầm rộ và ngày càng tinh xảo, điệu nghệ hơn. Đó cũng chính là cơ duyên hội ngộ của Trà đạo Nhật Bản và gốm sứ Việt vào cuối thế kỷ thứ XVI đầu thế kỷ XVII khi các đoàn thương thuyền của Nhật Bản theo gió xuôi về nam cập bến Hội An, Phố Hiến … Trong hơn 35 năm, một số lượng hàng gốm sứ Việt đã ra đi từ đây để phục vụ cho nghệ thuật uống trà với tên gọi Beni-anam, một loại chén uống trà hoa xanh lam có điểm màu đỏ và xanh lục lộng lẫy hay hình hoa sen thể hiện bằng màu xanh lá cây và màu đỏ rất đẹp mà gia đình tướng quân Tokugawa rất đỗi ưa chuộng. Môn phái Trà đạo nổi tiếng ở thế kỷ thứ XVII là Kanamori showa còn giữ được một bình đựng nước men trắng hoa sen của Việt Nam ( thế kỷ XII – XIII ) và nhiều gia đình phú hào ở Osaka vẫn còn lưu giữ các loại chén, bình nước để dùng trong trà đạo. Đã có lúc hàng Việt Nam khan hiếm, các lò gốm ở Kyoto đã phải làm hàng nhái mang tên Kyoyaki thay cho Annam-yaki.

Gốm Việt trong TRÀ ĐẠO Nhật

Dụng cụ dùng trong Trà Đạo(tách trà An-nam)

Theo giáo sư Hasebe Gakuji ( viện Bảo tàng Tokyo ) thì kỹ thuật đồ sứ Việt Nam đã có ảnh hưởng rất lớn đến những người thợ nghề này ở Seto ( thuộc tỉnh Aichi ngày nay ), một nơi được tướng quân Tokugawa đặt hàng với số lượng lớn gốm sứ hoa xanh như của Việt Nam khi phát hiện được những hoạt động của gia đình Owari Chaya ( Nagasaki ) được mô tả trong bức tranh “Chaya Shiroku vượt biển thông thương với nước Giao Chỉ” ở Hội An nổi tiếng. Hiện nay Viện Bảo tàng Tokyo còn giữ được một chiếc đĩa hoa xanh có chân rất đặc biệt do thợ gốm Seto làm vào nửa đầu thế kỷ 19 có ghi chữ “Đại Việt quốc” kèm theo mấy câu thơ chung quanh, mô phỏng theo đồ sứ Việt Nam, cho thấy “đồ sứ Việt Nam được đưa vào Nhật Bản liên tục có tác dụng kích thích những người thợ gốm Nhật Bản” ( GS. Hasebe Gakuji trong Tìm hiểu quan hệ Nhật – Việt qua đồ gốm sứ). Vì vậy những chiếc đĩa xanh lam với mô típ cảnh vật thiên nhiên của đồ sứ Imari ( tỉnh Kyushu – Nhật Bản ) sau này vẫn mang dáng dấp của gốm Chu Đậu, nhẹ nhàng và thanh thoát phù hợp với ý thích trong nghệ thuật của người Nhật hơn là tính kỹ xảo, chi tiết rườm rà trong hàng gốm sứ Cảnh Đức Trấn ( Trung Quốc ).

           
Gốm Việt trong TRÀ ĐẠO Nhật

Người viết đã được dịp trông thấy những chiếc chén trà hoa xanh có hình con chuồn chuồn rất trang nhã ở Viện Bảo tàng Nezu ( Tokyo ) và được biết nhiều gia đình Nhật Bản hiện nay vẫn còn cất giữ những chén trà tương tự như một bảo vật của tổ tiên. Đây là loại chén chuyên dụng trong Trà đạo, vì vậy có thể thương lái người Nhật đã đặt hàng sản xuất riêng trong những chuyến đi buôn ở Việt Nam vào thời ấy(*).

Còn gì thú bằng khi tham dự một buổi “tiệc” trà mà trên tay cầm một chiếc chén là hàng gốm sứ nước Việt đã có từ hàng trăm năm về trước với độ dày khả dĩ giữ được hơi ấm rất lâu trong gió thoảng lành lạnh còn sót lại của buổi đầu xuân. Điều đó hoàn toàn có thể thưởng thức vào mùa hoa anh đào nở mỗi năm trong công viên ở thành phố Kyoto cổ kính.                      

Hồng Lê Thọ

Sưu tầm : Trà Thuần Việt

(*) Nghệ thuật uống trà của Việt Nam (điển hình là trà xanh) và trà cụ đã được tiền nhân chúng ta cho xuất cảng sang Nhật trong giai đoạn nầy (từ triều nhà Lý sang đến nhà Trần). Hiện nay tại một bảo tàng viện của người Nhật ở Kyoto (cựu thủ đô của Nhật) vẫn còn lưu giữ và chưng bày một số trà cụ từ Việt Nam mà họ đã nhập vào nước Nhật trong triều đại nhà Lý mà người Nhật vẫn xem là những món đồ “quốc bảo”.

Trà đạo Nhật Bản như tôi biết

Trà đạo Nhật Bản như tôi biết

” Trà đạo hướng con người đến lễ nghĩa, sự huyền nhiệm và thiêng liêng của cái đẹp. Cái đẹp đó là sự phối hợp của những cái đẹp tinh thần … “

Trà đạo Nhật Bản như tôi biết

Trà đạo Nhật Bản như tôi biết

Lần đầu tiên tôi biết đến Trà đạo Nhật Bản khi được mời tham dự lễ hiến trà do GS. Trà đạo Suzuki Sokaku chủ trì trong lễ khởi công trùng tu di tích Hữu Tùng Tự ở lăng Minh Mạng. Hôm đó là ngày 4.8.1996, thời tiết thật đẹp, bầu trời xanh trong như sắc áo kimono của cô Suzuki Sumiko, trợ giảng của GS. Suzuki, người chuẩn bị trà thất cho lễ hiến trà. Trà thất là một gian của Hiển Ðức Môn, cửa chính dẫn vào nơi thờ vua Minh Mạng và Tá Thiên Nhân hoàng hậu, được dàn dựng theo phong cách Nhật. Trên những chiếc chiếu hoa trải kín mặt nền thay cho chiếu tatami trong các trà thất Nhật Bản, Suzuki Sumiko bày biện các dụng cụ dùng trong nghi lễ hiến trà. Có đến 12 vật dụng khác nhau, như: bếp lò, siêu nước, bình trà, chén trà, đỉnh trầm, hộp trà, thìa trà… được bày trên một chiếc tràng kỷ xinh xắn. GS. Suzuki lau những dụng cụ ấy bằng một chiếc khăn màu trắng với một sự kính cẩn và nghiêm trang đến lạ lùng. Ðộng tác của ông tỉ mẩn, chuẩn xác và đầy vẻ huyền bí. Bộ kimono màu đen trên người ông cùng với làn khói trầm vừa được nhóm lên đã tạo nên một cảnh sắc thành kính và thiêng liêng. Bên trong điện Sùng Ân, sáu phụ nữ Nhật vận kimono đủ các sắc màu đang tất bật chuẩn bị cho cuộc tiếp trà, với một không khí khẩn trương nhưng trang trọng và nhẹ nhàng.

 

TRÀ ĐẠO Nhật Bản

GS. Trà đạo Suzuki Sokaku hành lễ hiến trà trong lăng Minh Mạng

 

Sau lời khai mạc của Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, lễ hiến trà được bắt đầu. GS. Suzuki Sokaku dâng trầm lên án thờ vua Minh Mạng trong điện Sùng Ân và các án thờ trong Hữu Tùng Tự. Đoạn, ông quay trở lại trà thất bắt đầu lễ hiến trà. Với sự trợ giúp của cô Suzuki Sumiko, ông tiến hành nghi thức pha trà một cách kính cẩn, đầy thành tâm và chính xác như một điệu múa: từ việc tung chiếc khăn tím để lau chén trà, tráng nước sôi, đến việc cho trà vào chén, pha nước sôi rồi khuấy nhẹ chén trà bằng chiếc “chổi” vót bằng cật tre.

Chén trà đầu tiên với sắc nước màu xanh lục được ông thành kính dâng lên bàn thờ vua Minh Mạng trong điện Sùng Ân. Chén thứ hai dâng lên bàn thờ các quan trong Hữu Tùng Tự. Những chén trà kế tiếp được Sumiko và các đồng môn đưa đi mời khách. Trà đạo thường sử dụng ba loại trà khác nhau, là đoàn trà (trà bánh, dùng để nấu); mạt trà (trà bột để khuấy với nước nóng) và yêm trà (còn gọi là tiễn trà, dùng để pha trong ấm với nước sôi). GS. Suzuki đã dùng mạt trà cho lễ hiến trà ở lăng Minh Mạng. Mỗi trà tượng (khách tham dự lễ hiến trà) được mời một chén trà và hai chiếc bánh ngọt. Những chiếc bánh này được làm từ cố đô Kyoto. Một chiếc có hình dáng giống hai chiếc lá tùng màu xanh bắt chéo, tượng trưng cho hạnh phúc trường tồn; chiếc kia hình cái chuông màu vàng là biểu tượng của môn phái Omote Senke trong trà đạo Nhật Bản.

 

TRÀ ĐẠO Nhật Bản

Giảng sư trà đạo Watanabe Shimiko ở hướng dẫn tác giả bài viết cách dùng món bánh ngọt khi thưởng trà

Theo đúng nghi thức, khách được mời trà, trước tiên phải cúi đầu cám ơn, rồi đón chén trà bằng lòng tay trái. Sau đó, họ phải dùng tay phải xoay chén trà theo chiều kim đồng hồ hai lần rồi mới nhấp một ngụm và dùng một ít bánh ngọt. Sau nghi thức ấy, họ mới được uống cạn chén trà và ăn hết chỗ bánh còn lại.

Để những trà tượng người Việt Nam có thể hiểu và thực hành đúng nghi thức Trà đạo Nhật Bản, GS. Suzuki Sokaku và các môn đệ của ông đã chuẩn bị sẵn những tờ hướng dẫn viết bằng tiếng Nhật và tiếng Anh, và còn cử người tận tình chỉ dẫn. Song dường như đa phần khách được mời trà đã không xem và nghe kỹ lời chỉ dẫn, nên họ chỉ chiêu một hơi là đã cạn chén trà.

Tháng 6.1997, tôi nhận được học bổng của chính phủ Nhật Bản sang Nhật tu nghiệp về bảo tàng học và khảo cổ học. Nhờ vậy, tôi có thêm nhiều cơ hội tham dự những cuộc Trà đạo tổ chức ở các jinza (thần xã), taisha (đại xã); otera (chùa); trong các trà thất nổi danh ở Shimane, Osaka, Kyoto… Không chỉ tham dự, tôi còn được mời tham gia lớp học và thực hành Trà đạo ở Hội Giao lưu Quốc tế Hamada; được Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Cổ đại Shimane mời về nhà riêng để thưởng trà nhân dịp Tết 1998. Tôi chứng kiến gần như đầy đủ các nghi thức: hiến trà, hành trà và thưởng trà của người Nhật. Đó là những cơ hội quý giá để tôi tìm hiểu và khám phá thế giới kỳ bí và quyến rũ của Trà đạo Nhật Bản.

 

TRÀ ĐẠO Nhật Bản

Tác giả bài viết thưởng trà tại trà thất của ông Masatoshi Shinji, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Cổ đại Shimane.

 

Người Nhật quan niệm uống trà không chỉ để giải khát, mà là một thứ tôn giáo: Chado (trà đạo), tương tự Kendo (Kiếm đạo), Ikebana (Hoa đạo), Bushido (Võ sĩ đạo)… vậy. Người Nhật đầu tiên nâng việc uống trà trở thành một nghi lễ là Senno Rikyu (1521 – 1591). Senno Rikyu yêu cầu nghi lễ uống trà phải được tiến hành trong những phòng nhỏ, biệt lập và trang nghiêm. Ở đó, nhu cầu uống trà gắn liền với nhu cầu nghệ thuật, đòi hỏi cả chủ và khách đều phải có vốn kiến thức nhất định về thơ ca, hội họa, văn học cổ điển, nghệ thuật cắm hoa, các nghề thủ công khác nhau và lòng hiếu khách. Nghi lễ uống trà của Senno Rikyu đã tồn tại trong một thế giới vi mô, nơi mà người ta không để ý đến tiền tài và địa vị, mà chỉ coi trọng kiến thức, sự thanh nhã và phép lịch thiệp. Senno Rikyu có nhiều con và Omote Senke là con trai trưởng. Sau này, con cháu của ông đã lập ra nhiều môn phái Trà đạo khác nhau nhưng nổi tiếng nhất là ba môn phái: Omote Senke, Ura Senke và Mushakooji Senke. Tác phong và nghi thức hành lễ của các môn phái này gần như nhau. Song điều làm nên sự khác biệt chính là thái độ của các môn phái đối với Trà đạo. Sự khác biệt đó thuộc về nội tâm và chỉ có những người nghiên cứu về Trà đạo hoặc các trà tượng (người tham gia nghi lễ uống trà) mới có thể phân biệt được nhờ vào các biểu tượng của từng môn phái và nhờ vào sự chiêm cảm của họ.

Trong trước tác Trà đạo, tác giả Okakura Kakuzo, một trà sư lừng danh của Nhật Bản đã viết: “Trà đạo là một tôn giáo lập ra để tôn sùng cái đẹp trong những công việc tầm thường của sinh hoạt hàng ngày. Nó là nghi thức của đức tinh khiết và sự hòa hợp; nó làm cho người ta cảm thấy sự huyền bí của lòng hổ tương nhân ái và ý nghĩa lãng mạn của trật tự xã hội”. Theo ông, triết lý của Trà đạo không phải chỉ là một chủ nghĩa thẩm mỹ đơn giản theo ý nghĩa thông thường của nó, vì triết lý này cùng với luận lý và tôn giáo biểu thị tất cả quan niệm của chúng ta về con người và tạo hóa. Nó là khoa vệ sinh vì nó bắt buộc phải tinh khiết. Nó là khoa kinh tế vì nó chứng tỏ rằng an lạc là do sự giản dị nhiều hơn là do ở sự phức tạp và tổn phí mà ra. Nó là một thứ kỷ hà học về tinh thần, vì nó minh định ý niệm về cân xứng của ta đối với vũ trụ. Cuối cùng, Trà đạo tiêu biểu cho tinh thần dân chủ thực sự của Á Đông, vì nó đã khiến cho tất cả những người tôn sùng Trà đạo trở thành những bậc thẩm mỹ quý phái. Tất cả những triết lý cao siêu đó chỉ bắt nguồn từ một điều rất đơn giản. Ðó là sự nghi thức hóa việc pha và mời khách uống một loại nước giải khát được pha chế từ bột chè xanh và nước sôi. Song từ cái đơn giản đã được nghi thức hóa đó lại chứa đựng cái hồn của một nền văn hóa đã sinh ra nó.

TRÀ ĐẠO Nhật Bản

Bộ trà cụ dùng trong Trà đạo Nhật Bản.

Trà đạo hướng con người đến lễ nghĩa, sự huyền nhiệm và thiêng liêng của cái đẹp. Cái đẹp đó là sự phối hợp của những cái đẹp tinh thần toát ra từ Thiền đạo, Hoa đạo, cách phục trang và lối ứng xử. Tất cả đã tạo nên Trà đạo. Richard L. Gage, một người Mỹ từng nghiên cứu về Trà đạo đã nhận xét trong một bài viết của mình: “Nghi lễ uống trà Nhật Bản mang nhiều đặc điểm rất giống với balê cổ điển của phương Tây. Cả hai đều phải tuân theo một cách nghiêm ngặt những nguyên tắc và quy định phức tạp của nó, cả hai đều là không thể tha thứ được nếu những nguyên tắc và quy định của nó không được tuân thủ một cách nghiêm ngặt, và cả hai đều trở nên buồn tẻ đến ghê gớm nếu không có gì bổ sung vào việc thực hiện một cách tỉ mỉ những nguyên tắc và quy định ấy”.

Trà đạo còn tạo mối liên hệ giữa Nhật Bản với Việt Nam từ hơn 600 năm trước, thông qua những món gốm sứ Việt Nam dùng trong Trà đạo. Theo sách Trà hội ký, từ cuối thế kỷ XIV, người Nhật đã nhập đồ gốm Việt Nam để dùng trong các nghi thức hiến trà. Họ gọi những món đồ đó là Nanban Shimamono (nếu là đồ gốm) và An Nam (nếu là đồ sành sứ). Về sau, người ta đã phát hiện gốm sứ Việt Nam trong các di chỉ khảo cổ học ở Nhật Bản và trong các sưu tập tư nhân của các thế gia vọng tộc thời kỳ Mạc phủ. Những món đồ gốm sứ này được dùng trong nghi thức Trà đạo. Dựa vào kết quả giám định niên đại, các nhà khảo cổ học Nhật Bản như Tani Akira, Nishino Noriko… cho rằng gốm sứ Việt Nam du nhập vào Nhật Bản trải qua bốn thời kỳ: Thời kỳ thứ 1 là nửa sau thế kỷ XIV; thời kỳ thứ 2 là cuối thế kỷ XV – đầu thế kỷ XVI; thời kỳ thứ 3 là cuối thế kỷ XVI và thời kỳ thứ 4 là nửa đầu thế kỷ XVII. Các thời kỳ đầu, người Nhật chỉ mua đồ gốm Việt Nam về làm vật dụng phụ trợ trong nghi lễ hiến trà như lọ hoa, lọ trà… Nhưng đến thời kỳ thứ 4 thì những món gốm sứ xuất xứ từ Việt Nam, tuy kỹ thuật tạo hình mang đặc trưng của gốm sứ Việt Nam đương thời, nhưng hình dáng và hoa văn trang trí lại được làm theo thẩm mỹ của trà nhân Nhật Bản. Vì thế, TS. Nishino Noriko cho rằng có nhiều khả năng vào nửa đầu thế kỷ XVII, người Nhật Bản đã trực tiếp sang Việt Nam chỉ đạo việc làm đồ gốm sứ đặt hàng theo mẫu mã do họ yêu cầu. Sử sách cũng ghi lại sự kiện một phụ nữ Nhật Bản tên là Chiyo (1671 – 1741), con gái của thương gia Wada Rizaemon, đã kết hôn với một thợ gốm ở Bát Tràng (Việt Nam). Điều này góp phần chứng minh rằng Wada Rizaemon là người trực tiếp buôn gốm sứ Việt Nam về bán cho người Nhật Bản. Nửa đầu thế kỷ XVII cũng là thời kỳ hoạt động của dòng thương mại shuinsen (châu ấn thuyền). Có khả năng gốm sứ An Nam của thế kỷ XVII được đưa sang Nhật Bản theo thuyền shuinsen và được quản lý chặt chẽ bởi các thương nhân Nhật Bản như Wada Rizaemon.

Chính nhờ Trà đạo mà người Nhật đã biết đến Việt Nam sớm hơn những gì ta tưởng. Vậy thì, một người Việt Nam như tôi bỏ chút thời gian để tìm hiểu Trà đạo, cũng là một cách “về nguồn” vậy. Không biết tôi nghĩ như thế có đúng không?

 

Tác giả : Trần Đức Anh Sơn

Sưu tầm : Trà Thuần Việt

Bộ đồ Trà Mai Tuyết

Bộ đồ Trà Mai Tuyết

” Sau khi có bộ đồ trà, lão phải nhờ người sang tận Ðài Loan, tìm mua cho được chiếc ấm đất hiệu Mạnh thần để pha trà cho xứng hợp … “

Bộ đồ Trà Mai Tuyết

Bộ đồ Trà Mai Tuyết
Bộ đồ TRÀ mai tuyết

Dầm Trà Đạp Tuyết Tầm Mai

 

 

Có tiếng gà gáy văng vẳng nơi xa. Lão Quy trở mình, khúc khắc ho, hé mắt nhìn qua cửa sổ. Trời vẫn còn tối lắm, chắc chỉ năm giờ là cùng. Nghĩ vậy nhưng lão vẫn thò chân quờ quạng tìm đôi dép Nhựt dưới nền. Lại ho lục khục.
- Trời còn tối thui mà đã sì sà sì sục, không cho ai được yên một bữa.
Tiếng cằn nhằn từ dưới nhà ngang vọng lại. Hình như lão Quy không nghe tiếng vợ càm ràm, hoặc giả đã quá nhàm, vẫn lệt xệt đôi dép, lê từ trong nhà ra chiếc bể cạn đựng nước mưa ở trước hiên. Rót nước vào chiếc siêu đồng xong, lão trở lại chiếc tràng kỷ đặt trên bộ ngựa cạnh chiếc giường của lão, gắp mấy hòn than trong chiếc bị lác, cho vào cái hỏa lò hình con cóc há miệng kế bên, thêm mấy cọng nhang bẻ vụn rồi quẹt diêm nhóm lò.
Ðặt chiếc siêu đồng lên hỏa lò vừa bén lửa, lão dón bộ đồ trà, lại lệt bệt đi ra bể nước trước hiên, tỷ mẩn kỳ cọ bộ đồ trà bằng sứ men lam. Lão làm công việc ấy một cách chăm chú, cẩn trọng, vừa rửa, vừa săm soi như thể muốn tìm ngọc ngà châu báu gắn nơi mấy món đồ sứ. Tới khi nghe tiếng nước réo trên hỏa lò, lão mới trở lại gian nhà trên, rửa vội chiếc ấm đất bằng nước nóng, cho trà vào để pha.
- Có bì mứt thằng Long mới biếu hôm qua, tui để trong tủ thờ đó. Lại tiếng vợ lão vọng lên từ nhà ngang.
Không một lời ừ hử, lão Quy tráng nước sôi qua mấy cái chén, đặt ngay ngắn trên dĩa bàn, đoạn chuyên trà ra chén tống. Vợ lão cũng đã trở dậy, mang đến một dĩa mứt gừng:
- Mứt đầu mùa, con vợ thằng Long làm để bán Tết, mang qua biếu ông thời thử. Long là hàng xóm sát nách nhà lão, thi thoảng cũng được góp mặt thưởng trà.
Trời sáng hẳn, đã nhìn rõ hình trang trí trên bộ đồ trà. Cả dầm, bàn, tống, tốt đều vẽ như nhau, hình một người đang đi trong bão tuyết, vai vác cành mai, bên cạnh có hai câu thơ chữ Hán: “Tuyết trung vị vấn điều canh sự. Tiên cú bách hoa đầu thượng khai”. Lão Quy nhìn như thôi miên vào bộ đồ trà mà lão nhớ nằm lòng từng nét vẽ, từng văn tự trên đó.

Ba chục năm trước, lão sang chữa bệnh cho ông cụ Lự bên kia phá Tam Giang. Ông cụ mắc bệnh đã hơn một tuần nhưng người nhà chủ quan, đến khi nguy kịch mới cho người sang mời lão. Cụ bị thương hàn, sau chuyển sưng gan. Lão phải đi đi về về, hốt thuốc ba, bốn lượt, ông cụ mới qua khỏi. Khi lành bệnh, cụ Lự sai người nhà sang biếu cho lão bộ đồ trà này. Lúc đầu, lão không dám nhận, nhưng khi nghe nói nếu lão từ chối, ông cụ sẽ sai người khiêng sang gặp lão để cảm tạ thì lão đâm hoảng, đành nhận lấy.
Lão nghe bảo cụ Lự có họ hàng với ông Ðặng Huy Trứ, quan Bình Chuẩn sứ dưới trào vua Tự Ðức. Sinh thời, quan Ðặng cho đặt làm nhiều đồ sứ bên Tàu về dâng tặng cho nhà thờ họ Ðặng bên làng Thanh Lương. Những đồ sứ ấy, mỗi thứ chỉ đặt một bộ, vẽ tích riêng, nhưng dưới đáy đều có hiệu đề chữ Hán viết thành vòng tròn, giống nhau ở 12 chữ đầu: Tự Ðức mậu thìn trung thu Ðặng quý từ đường tế khí…, riêng mấy chữ cuối, là tên điển tích vẽ trên món đồ, thì khác nhau. Ông cụ được thừa kế bộ đồ trà vẽ tích “Hàn Dũ đạp tuyết tầm mai”, trân quý hơn bảo ngọc, nay cảm ơn cứu mạng mà cho người mang biếu lang Quy.

Bộ đồ trà sống với lão ngót ba chục năm, không phải chỉ ở với mình lão mà cả với hai người bạn trà của lão là mệ Nho và ông Cử Tấn. “Trà tam tửu tứ”. Người xưa dạy vậy, nên bộ đồ trà chỉ có ba chén tốt, còn lại là một dĩa bàn, một chén tống và một dĩa dầm lót chén tống. Vậy là hoàn hảo.

Sau khi có bộ đồ trà, lão phải nhờ người sang tận Ðài Loan, tìm mua cho được chiếc ấm đất hiệu Mạnh thần để pha trà cho xứng hợp. Sáng, rơ trời là hai ông bạn vàng đã sang nhà lão thưởng trà. Khi thì họ mang sang hộp bánh, lúc khác thì bịch mè xửng hay gói mứt. Trà thì lão không bao giờ thiếu. Cả làng Hạ này không ai không biết nhà lang Quy dùng trà sành có hạng, nên khi hữu sự, cứ chọn trà ngon biếu lão thay tiền chữa bệnh. Lão cũng ưng cái kiểu trả công đó, trừ vợ lão và mấy đứa con. Ðám đàn bà trong nhà cho rằng lão lậm với thú uống trà và bộ đồ trà mai tuyết ấy. Lão bỏ ngoài tai hết thảy. Xem cái cách lão chọn trà, pha trà, chuyên nước… thì quả là lão lậm với trà thiệt. Nước pha trà của lão bao giờ cũng là nước mưa trữ sẵn. Trà của lão là thứ trà Thái chính tông, nước xanh như ngọc, hương dịu, uống xong dư vị ngọt tận cuống cổ. Không khi nào lão rót thẳng trà ra chén tốt mà phải rót qua chén tống, đợi một lát cho lóng cặn rồi mới chuyên sang chén tốt mời trà hữu. Cũng chẳng bao giờ lão dốc cạn ấm.
- Muốn trà ngon nước từ đầu đến cuối, chỉ được rót một nửa rồi phải châm nước mới vào. Châm nước hai lần thì thay trà mới. Lão giảng giải cho thằng cháu đích tôn, thường được sai hầu trà.
Những khi mệ Nho hay ông Cử Tấn se mình không sang chầu trà thì đã có thằng Long hàng xóm. Lão chỉ ới một tiếng là hắn vội vạch rào chui sang. Cái thằng, đường sá ngay thẳng không đi, cứ chui lòn cho khổ. Ðược cái hắn lòn hàng rào nhưng trong đời tịnh không lòn cúi ai.
Hắn cũng ưng góp mặt thường xuyên trong chầu trà sáng nhà lão, ngặt nỗi bộ đồ trà Huế chỉ có ba chén tốt, hắn là kẻ hậu sinh, chỉ được góp mặt khi mệ Nho hay Cử Tấn bỏ bữa. Buổi trà sáng đã trở thành một cái nếp trong nhà lão, đời lão, ngót ba chục năm nay. Cho đến chiều qua…

- Cho tôi hỏi đây có phải nhà cụ lang Quy?
Nghe tiếng người hỏi vọng ngoài ngõ, lão lật đật dớm chân khỏi phòng mạch thì người khách đã vào tới sân. Sau lúc sơ kiến, người khách cho biết ông ta là hậu duệ của quan Bình chuẩn sứ họ Ðặng, nghe nói nhà lang Quy có bộ đồ trà là di vật của cụ tổ nên tìm đến, trước là kết mối giao hảo, sau xin được diện kiến bộ đồ trà. Cũng qua lời ông Sinh, tên của người đàn ông, lão biết rằng những đồ sứ do quan Bình Chuẩn sứ đặt làm bên Tàu vào năm Mậu thìn trào vua Tự Ðức để dâng cho từ đường họ Ðặng, về sau tứ tán cả. Ông Sinh, cháu bốn đời của quan Ðặng, đi làm ăn tận Sài Gòn, đã bỏ gần 20 năm và phần lớn gia sản mới sưu tầm gần đủ những món đồ sứ cụ tổ đã đặt làm năm xưa. Chỉ còn sót bộ đồ trà mai tuyết này. Nhờ có người chỉ lối, ông Sinh tìm ra Huế, hỏi thăm nhà lang Quy, xin được mua lại bộ đồ trà ấy với bất kỳ giá nào.
Vừa nghe thủng câu chuyện của ông Sinh, lão Quy đã giãy nãy, kêu người tiễn khách. Người mô mà ăn nói khó nghe quá. Bộ đồ trà là một phần của đời lão, có trả tiền tấn cũng không được. Chưa kể tới chuyện lão sẽ ăn nói mần răng với mệ Nho, với Cử Tấn, với cả thằng Long khi họ qua dự chầu trà sáng.
Khách ra về cả buổi rồi nhưng lòng lão cứ rộn rộn, nao nao, đứng ngồi không yên. Nửa buổi chiều, lão treo tấm biển: Hết giờ khám bệnh. Rồi lão đi nằm, bỏ cả bữa tối.

Lão chuyên trà từ chén tống sang chén tốt, nhấp một ngụm rồi đặt chén trà xuống dĩa bàn, nét mặt đăm chiêu. Dĩa mứt bày trước mặt thơm ngào ngạt nhưng lão không hề rớ tay. Siêu nước trên hỏa lò đã cạn từ lâu lão cũng không để ý. Lòng lão rối bời: Người ta bỏ cả gia sản và tốn cả mấy chục năm trời để đi tìm di vật của tổ tiên. Thiệt đáng trân quý. Nhưng thiếu bộ đồ trà thì đời lão còn gì nữa.
Chợt lão nâng chén trà uống cạn, lại uống nốt phần trà trong chén tống, rồi đứng dậy dọn dẹp bộ đồ trà mang đi rửa. Rửa xong, lão lau khô từng món một. Xong, lão mở tủ thờ, lấy ra vuông lụa điều, đặt bộ đồ trà vào bên trong, gói gém một cách cẩn thận. Lão kêu thằng cháu nội mang giấy viết đến, rồi cắm cúi viết.

Làng Hạ, ngày 20 tháng Chạp.
Kính gửi ông Ðặng!
Người cầm thư này đến khách sạn cho ông là cháu nội của tui. Trong vuông vải điều cháu mang theo là bộ đồ trà mai tuyết. Tui đã may mắn được giữ gìn kỷ vật của dòng họ ông ngót ba chục năm. Nay đã tới hồi châu về Hợp Phố. Xin ông nhận lại cho và đừng băn khoăn đến chuyện tiền nong.
Kính chúc ông mạnh khỏe, an khang.
Lang Quy.

Lão bảo thằng cháu:
- Con đem lá thư này qua khách sạn Hương Giang, hỏi ông Ðặng Huy Sinh, trao cho ông cùng cái bọc vải điều này. Nhớ đi cẩn thận.
Thằng cháu đi rồi, lão ra trước sân, viết lên tấm bảng thông báo giờ khám bệnh:
Lang Quy vô Nam ăn Tết với con gái. Sau rằm nguyên tiêu mới trở lại khám bệnh. Mong quý vị thông cảm.
Ðoạn lão khép cổng và trở lại chiếc giường của lão. Cả đêm qua dường như lão không ngủ.

 

Trần Dức Anh Sơn

Sưu tầm : Trà Thuần Việt

Lời của tác giả : Ðặng Huy Trứ là một nhân tài, một nhà kinh bang tế thế, một danh nhân văn hóa lỗi lạc dưới triều Tự Ðức (1848 – 1883), nên cái cách ghi hiệu đề lên đồ sứ do ông ký kiểu cũng hết sức đặc biệt. Đó không phải là những hiệu đề bình thường như trên bao món đồ sứ khác mà là những tâm nguyện của ông đối với tổ tiên, đồng thời là những di ngôn mang tính giáo huấn cho các thế hệ con cháu họ Ðặng sau này.

Những món đồ sứ do Ðặng Huy Trứ ký kiểu, những điển tích và hiệu đề trên những món đồ sứ ấy không chỉ là đối tượng nghiên cứu của tôi, mà còn là niềm cảm hứng để tôi viết nên một truyện ngắn, tựa đề Bộ đồ trà mai tuyết.

Những bộ đồ Trà thời nhà Nguyễn

Những bộ đồ Trà thời nhà Nguyễn

” Người Việt có một nền “văn hóa uống trà”, tuy không đến mức nâng thành Trà đạo (Chado) như người Nhật, nhưng nền “văn hóa” ấy có từ lâu đời … “

Những bộ đồ Trà thời nhà Nguyễn

Những bộ đồ Trà thời nhà Nguyễn

Người Việt có một nền “văn hóa uống trà”, tuy không đến mức nâng thành Trà đạo (Chado) như người Nhật, nhưng nền “văn hóa” ấy có từ lâu đời, rất phong phú và độc đáo. Dưới thời Nguyễn (1802 – 1945), uống trà đã trở thành một lạc thú tao nhã, rất được giới quý tộc, quan lại và thức giả ưa chuộng. Thậm chí, uống trà còn được coi là một bộ môn nghệ thuật, đứng đầu trong nghệ thuật ẩm thực.

Bộ đồ trà Huế xưa

Bộ đồ trà hạ ẩm, kiểu Huế, vẽ tích Bá Nha – Tử Kỳ,
hiệu đề Giáp Tí (1804). Đồ sứ ký kiểu đời Gia Long

 

Để việc uống trà xứng đáng trở thành một lạc thú tinh thần đầy cảm hứng, ngoài trà ngon, bạn hiền, còn phải có một bộ đồ trà xứng tầm. Một bộ đồ trà thời Nguyễn bao giờ cũng hội đủ các dụng cụ dùng cho việc pha trà và thưởng trà, gồm: hỏa lò, siêu đồng nấu nước, hũ sành đựng nước pha trà, hũ đựng trà, ấm trà bằng đất nung và bộ đồ trà bằng sứ ký kiểu. Ngoài ra còn có than củi, trầm hương và vài loại bánh mứt để cuộc trà thêm phần ý vị.

 

Bộ đồ trà Huế xưa

Đĩa trà vẽ mai hạc đề hai câu thơ chữ Nôm theo thể bát – lục.
Đồ sứ ký kiểu đời Tự Đức

 

Những dụng cụ như hỏa lò, siêu đồng, hũ đựng trà thường là đồ nội hóa, có thể đặt làm hoặc mua trong nước, nhưng bộ ấm chén trà thì thường là đồ sứ, ký kiểu ở nước ngoài. Triều vua Minh Mạng (1820 – 1841), nhà vua đặt cho xưởng gốm Copeland & Garrett thuộc Công ty Spode ở Liverpool (Anh) làm những bộ đồ trà bằng gốm faience, đưa về Việt Nam vẽ thêm các kiểu hoa văn mà nhà vua ưa thích lên ấm chén trà, rồi ghi dòng lạc khoản chữ Hán:  “Minh Mạng … niên tăng họa” (Vẽ thêm vào năm Minh Mạng thứ …). Triều Thiệu Trị (1841 – 1847) thì đặt cho lò sứ Sèvres ở Paris (Pháp) làm những bộ đồ trà bằng sứ màu trắng, vẽ các hoa văn thảo mộc bằng nhũ vàng, có đề dòng lạc khoản chữ Hán bằng men màu đen: Thiệu Trị nguyên niên phụng chế (Làm theo lệnh vào năm Thiệu Trị thứ nhất). Những món đồ trà ấy nay vẫn còn trưng bày nơi Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

 

Bộ đồ trà Huế xưa

Bộ đồ trà xuân – thu ẩm, kiểu Huế, vẽ phong cảnh sơn thủy, hiệu đề chữ Nhật.
Đồ sứ ký kiểu đời Minh Mạng

 

Tuy nhiên, đồ trà thời Nguyễn, phong phú nhất và cũng ấn tượng nhất là những bộ đồ trà ký kiểu ở Trung Hoa. Thông thường, triều đình thường sai các họa sĩ trong Họa tượng cục thuộc Nội vụ phủ vẽ kiểu dáng đồ trà và các mẫu hoa văn trên giấy, rồi gửi theo các sứ bộ sang Trung Hoa công cán, đặt các lò sứ ở Cảnh Đức Trấn (tỉnh Giang Tây) làm các bộ chén và dĩa trà theo mẫu, rồi ghé huyện Nghi Hưng (tỉnh Giang Tô) để tìm mua những chiếc ấm trà bằng đất nung.

Điều thú vị là triều Nguyễn cùng thời với triều Đại Thanh của Trung Hoa, nhưng đồ trà thời Nguyễn ký kiểu tại Trung Hoa lại không theo kiểu thức của đồ trà thời Thanh (1644 – 1911) mà theo kiểu thức của đồ trà thời Minh (1368 – 1644).

 

Bộ đồ trà Huế xưa

Bộ đồ trà đông ẩm, kiểu Huế, vẽ phong cảnh sơn thủy, hiệu đề chữ Nhật.
Đồ sứ ký kiểu đời Tự Đức

 

Một bộ đồ trà thời Nguyễn thường có các món: tống, tốt, dầm, bàn. Tống, còn gọi là tướng, là chiếc chén lớn dùng để chứa nước trà rót ra từ ấm, đợi lóng cặn rồi mới chuyên sang các chén tốt. Tốt, còn gọi là quân, là các chén nhỏ để uống trà. Dầm là chiếc dĩa lót chén tống. Bàn là chiếc dĩa có chức năng như chiếc khay nhỏ chứa các chén tốt. Người Huế uống trà thường chỉ có ba người (trà tam, tửu tứ), nên bộ đồ trà sứ ký kiểu dành cho người Huế thường có năm món, gồm: ba chén tốt, một chén tống và một dĩa bàn, không có dĩa dầm, vì chén tống sẽ được úp chồng lên một chén tốt ở trên dĩa bàn. Trong khi đó, bộ đồ trà sứ ký kiểu của người Bắc thường gồm bảy món: bốn chén tốt, một chén tống, một dĩa bàn và một dĩa dầm. Trong mỗi bộ đồ trà, chén tốt và chén tống giống nhau về dáng kiểu, chỉ khác nhau về kích thước. Dĩa bàn và dĩa dầm cũng tương tự. Cả bốn thứ này đều có chung đề tài và kiểu thức trang trí.

 

Bộ đồ trà Huế xưa

Bộ đồ trà xuân – thu ẩm, kiểu Huế, vẽ phong cảnh, hiệu đề chữ Nhật.
Đồ sứ ký kiểu đời Minh Mạng

 

Chén trà sứ ký kiểu thời Nguyễn có hai loại kiểu dáng chính là chén trà không chân chén trà có chân. Chén trà không chân, còn được gọi là chén lật đật, vì loại chén này có đáy tròn và nặng và không có vành đế. Khi không chứa nước, nếu có ngoại lực tác động vào, chén dễ dao động do điểm tiếp xúc giữa chén trà với mặt phẳng chứa nó (như mặt bàn, lòng khay) rất nhỏ, song bao giờ chén cũng trở về vị trí thăng bằng. Hình tượng này giống con lật đật, vì thế mà thành tên chén lật đật. Chén trà có chân là chén trà có vành chân đế ở dưới đáy chén, cao từ 0,2cm đến 0,5cm.

 

Bộ đồ trà Huế xưa

Bộ đồ trà bát giác vẽ viên long, hiệu đề Thiệu Trị niên tạo.
Đồ sứ ký kiểu đời Thiệu Trị

 

Mỗi bộ đồ trà được sử dụng vào một mùa thích hợp trong năm. Xuân sang, thu về thì dùng đồ trà xuân – thu ẩm. Hạ tới dùng đồ trà hạ ẩm. Đông đến thì có đồ trà đông ẩm. Chén xuân – thu ẩm có miệng đứng, thành cao vừa phải, xương sứ có độ dày trung bình; chén hạ ẩm có miệng loe rộng, thành thấp, nông lòng, xương sứ mỏng để nước nhanh nguội; chén đông ẩm có miệng kín, thành cao, sâu lòng, xương sứ dày để giữ nhiệt lâu hơn.

Về dĩa trà, khác với người Mãn Thanh thường uống trà trong chén lớn có nắp đậy và có dĩa lót bên dưới, “người nào, chén nấy”, người Việt thường uống trà với bằng hữu, nên trong bộ đồ trà có một dĩa bàn làm khay đựng chén tốt và có một dĩa dầm để đựng chén tống. Thậm chí, khi thưởng trà một mình, người Việt cũng dùng bộ đồ trà tương tự, chỉ khác là thay vì dùng ấm lớn để pha trà thì người ta dùng loại ấm độc ẩm nhỏ hơn. Do lối uống trà này mà bộ đồ trà sứ ký kiểu bao giờ cũng có một dĩa bàn và một dĩa dầm (riêng các bộ đồ trà ký kiểu đời Gia Long thường không có dĩa dầm, nên chén tống được úp chồng lên một chén tốt). Dĩa trà sứ ký kiểu có hai loại dáng kiểu chính là dĩa bo gãy và dĩa bo sáp. Dĩa bo gãy là dĩa có thành gãy góc ở nơi tiếp xúc với đáy, còn dĩa bo sáp (còn gọi là dĩa bánh sáp) là dĩa có thành uốn cong ở nơi tiếp xúc với đáy.

 

Bộ đồ trà Huế xưa

Bộ đồ trà hạ ẩm, kiểu Bắc, vẽ phong cảnh sơn thủy, đề thơ chữ Hán.
Đồ sứ ký kiểu đời Tự Đức

 

Về ấm trà, ngày trước người ta thườngpha trà bằng ấm đất với các hiệu lò nổi tiếng như: Thế Ðức, Mạnh Thần, Lưu Bội… Vì thế mới có câu: “Thứ nhất Thế Ðức gan gà. Thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Ấm trà đất nung có nhiều kích cỡ khác nhau, tùy vào số người thưởng trà: một người thì dùng ấm độc ẩm; hai người thì dùng ấm song ẩm, từ ba người thì có dùng ấm tam ẩm, từ năm người trở lên dùng ấm quần ẩm. Song chẳng mấy khi có cuộc trà quần ẩm, bởi “cái thú uống trà, không thể ồn ào được. Lối giao du của cổ nhân đạm bạc chứ không huyên náo như bây giờ. Chỉ có người tao nhã, cùng một thanh khí mới có thể cùng nhau ngồi bên một ấm trà…” (Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời).

 

Bộ đồ trà Huế xưa

Bộ đồ xuân – thu ẩm, kiểu Bắc, vẽ phong cảnh sơn thủy, đề thơ chữ Hán.
Đồ sứ ký kiểu đời Tự Đức

 

Từ dáng kiểu của các loại ấm đất nung, vua quan triều Nguyễn đã mô phỏng để đặt làm các ấm trà bằng sứ men trắng vẽ lam, cũng đầy đủ các loại độc ẩm, song ẩm, quần ẩm… với các hiệu đề: Nội phủ, Uẩn tàng xuân mỹ, Thế Ðức định chế... viết bằng chữ Hán. Loại ấm trà này thường được tạo dáng nhỏ nhắn, thanh thoát. Ðặc biệt, vua Thiệu Trị đã ký kiểu những bộ đồ trà bát giác, với chiếc ấm bằng sứ, vẽ tám đồ án viên long và ghi hiệu đề Thiệu Trị niên tạo. Đây là những bộ đồ trà toàn mỹ nhất trong di sản đồ trà ký kiểu thời Nguyễn.

 

Bộ đồ trà Huế xưa

Bộ đồ trà xuân – thu ẩm, kiểu Bắc, vẽ phong cảnh sơn thủy, đề thơ chữ Hán.
Đồ sứ ký kiểu đời Tự Đức

 

Trên các bộ đồ trà thường trang trí các đồ án rồng mây (nếu là đồ trà ngự dụng) hoặc trang trí “nhất thi, nhất họa” (nếu là đồ trà của quan lại hay các bậc thức giả). Người ta thường gọi tên bộ đồ trà dựa theo hình vẽ trên đó, như: đồ trà Tô Vũ mục dương, đồ trà Nhất chẩm tùng phong, đồ trà Đình xa tọa ái… Nổi tiếng nhất là bộ đồ trà Mai hạc,vẽ hình một con chim hạc đứng cạnh gốc mai, kèm hai câu thơ chữ Nôm: Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen.

 

Bộ đồ trà Huế xưa

Sưu tập ấm trà bằng đất nung đời Tự Đức

 

Người xưa uống trà không chỉ để thưởng thức hương vị của trà. Họ còn lưu tâm đến nội dung các cuộc mạn trà và nét đẹp nghệ thuật của loại hình, dáng kiểu, họa tiết trang trí trên đồ trà. Họ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nét bút tài hoa trên ấm chén, bình phẩm thơ văn hay nghiền ngẫm những “chuyện xưa, tích cũ” lưu dấu trên đồ trà.

Vì thế mà mỗi bộ đồ trà sứ ký kiểu là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Và bây giờ thì đó là những cổ vật trân quý mà người chơi cổ ngoạn nào cũng mong muốn sở hữu.

 

Trần Đức Anh Sơn

Phong thái Trà Việt

Phong thái Trà Việt

” Trà phong là nói gọn phong cách uống Trà của người Việt Nam ta, gồm có pha trà, uống trà. Những người sành uống Trà thường tự xưng mình là “Trà nô”, một hạng người nô lệ vì Trà ngon … “

Phong thái Trà Việt

Phong thái Trà Việt
Phong thái TRÀ VIỆT

Bộ đồ trà việt xưa

 

Trà phong là nói gọn phong cách uống Trà của người Việt Nam ta, gồm có pha trà, uống trà. Những người sành uống Trà thường tự xưng mình là “Trà nô”, một hạng người nô lệ vì Trà ngon, cũng là cách nói khiêm nhường tự xưng mình là người sành sỏi uống Trà.

 

Pha trà

 

Ðã có trà ngon hảo hạng, bộ đồ trà hạng nhất mà không biết cách pha trà thì cũng phí uổng bình trà. Muốn pha trà ngon nước phải tốt và lửa phải đúng.

Trà sư Lục Vũ, tác giả Trà kinh, gọi lửa là “trà sư” nước là “trà hữu”. Trà muốn pha thật ngon thì phải đúng lửa, đúng nước. Như cậu học trò muốn nên người phải có thầy giỏi bạn tốt vậy.

Vua Tống Huy Tông (1100-1127) trong sách Ðại Quan Trà luận phân loại nước dùng để pha trà như sau “Sơn thủy thượng, giang thuỷ trung, tĩnh thuỷ hạ” nghĩa là nước pha Trà tốt nhất là nước suối, kế đến là nước sông sau cùng là nước giếng. Nhưng ở Việt Nam thì thường dùng nước giếng hoặc nước mưa chỉ ngoại trừ Nguyễn Tuân thì tột đỉnh không ai bằng, ông dùng nước sương đọng trên lá sen buổi sớm.

Ðun nước sôi cũng là một yếu tố quan trọng để có bình trà ngon. Ấm nước đặt trên lò than đượm. Nước vừa sôi bùng mắt cua là được. Nước sôi già quá sẽ làm cho Trà nồng kém ngon. Trước khi pha Trà, bình chén phải sạch sẽ và trụng nước sôi (nên nhớ một điều không bao giờ rửa bình trà bằng xà-phòng, đó là việc tối kỵ), rồi cho trà vào bình, lượng trà nhiều ít tuỳ người uống. Thông thường các cụ dùng một cái muỗng bằng gỗ để lường Trà gọi là “ngọc diệp hồi cung”. Sau đó rót nước vào ấm từ một độ cao, để cho Trà khuấy lên và làm tan bụi bậm gọi là “cao sơn trường thủy”. Xong rồi chắt ngay nước ấy ra loại bỏ những cặn cáo. Tiếp theo hạ thấp ấm, châm nước vào bình Trà đợt hai, hơi tràn ra một tí cho bọt bèo giạt ra hết gọi là “hạ sơn nhập thủy”. Sau đó dội một đợt nước sôi già lên nắp bình và bộ chén nhằm giử nhiệt độ bình trà luôn cao nhất. Giữ bình trà trong vòng 2 phút để ra trà. Nước trà thứ hai nầy mới đúng tiêu chuẩn thơm tho tuyệt diệu của bình trà.

Khi dùng, rót nước Trà ra chén cũng phải theo quy tắc. Ðể các chén gần sát nhau, lượt đầu rót nửa chén, sau đó rót ngược lại để cho các chén trà đều nhau không chén nào đậm không chén nào lạt. Vì “rượu trên be, chè dưới ấm”. Thông thường chuyên Trà ra chén Tống trước rồi sau đó mới chia đều ra chén Quân. Ngày nay cách nầy ít dùng vì mất thì giờ và làm cho trà mau nguội.

Khi rót Trà ra chén không nên đưa bình lên cao quá, tiếng nước trà chảy ton ton làm nước văng tung toé, mau nguội và thiếu lịch sự.

 

Nghệ thuật uống trà

 

Uống trà không những bằng miệng, bằng mủi, bằng mắt, bằng tai, bằng lưỡi mà còn uống bằng cả tâm hồn nữa. Tay phải nâng chén trà, ngón giữa đỡ lấy đáy chén, ngón trỏ và ngón cái giữ lấy miệng chén gọi là “tam long giá ngọc”, đưa cao chén trà ngang mũi, là “du sơn lâm thuỷ”, tay trái che ngoài tay phải để giử làn hơi bay vào mũi, khỏi phải hít hà thô lậu, vừa che được miệng khi uống. Thật là tận hưởng hương vị của chén trà.

Ngụm nước đầu tiên chậm rãi nuốt khẽ cho hương trà thoát ra đằng mũi và đồng thời còn đọng lại hơi chan chát ở lưỡi, ngòn ngọt ở cổ họng rồi thấm thía tận tâm can. Nuốt nước bọt tiếp lần một, lần hai, rồi lần ba sẽ cảm nhận được hương vị của Trà ngon.

Ngồi uống Trà một mình thì gọi là độc ẩm, hai người thì gọi là đối ẩm, ba người trở lên thì gọi là quần ẩm. Thông thường uống trà ngồi với nhau là những người đồng tâm, hợp ý cho nên quần ẩm nhiều nhất là ba người.

Sao người ta không pha một bình trà lớn, không uống bằng chén lớn, mà lại dùng bình nhỏ, chén nhỏ ? Nếu uống Trà với chén lớn gọi là “ngưu ẩm”, tức là uống như trâu ống nước, nghĩa là uống lấy no, uống cho đã khát, chớ không phải uống để thưởng thức Trà. Thưởng thức Trà, người ta chỉ uống một hớp nhỏ, vừa đủ nóng trong miệng, nuốt từ từ vào, người ta cảm nhận nước từ từ thấm vào và chậm chậm một lát sau sẽ có hương vị của Trà trong cổ họng của người uống, nếu vừa mới hớp một hớp Trà, Trà chưa kịp thấm giọng lại hớp tiếp một hớp khác, cứ như vậy, người uống sẽ không cảm nhận được hương vị của Trà. Và nếu pha một bình Trà lớn, trong khi uống một hớp nhỏ chờ thưởng thức hương vị Trà của hớp ấy, uống và thưởng thức được hương vị chén Trà thứ hai thì Bình trà sẽ nguội đi, uống không còn ngon nữa, chính vì vậy người ta phải dùng bình nhỏ, bình độc ẩm, đối ẩm, quần ẩm, cái chính của nó là hớp Trà nào cũng đủ nóng tỏa hương vị thơm ngon của nó.

 

Những Trường hợp không nên uống nước Trà đậm

 

Chúng ta biết rằng Trà có công hiệu làm cho người uống có tinh thần phấn chấn, tiêu trừ nhọc mệt, khử bệnh và làm cho thân thể  khỏe mạnh. Nhưng Trà có tác dụng phụ, cho nên đừng uống Trà đậm trong những trường hợp sau đây:

- Bị bệnh quán tâm, trong Trà có chất Cà-phê toan, chất nầy có tác dụng làm tăng cường sự hưng phấn, khi uống nước Trà đậm làm tim đập nhanh, khiến làm cho bệnh nặng hơn.

- Tỳ vị hư nhược, Trà sẽ kích thích đường ruột, khiến tỳ vị không được thư giản, nghỉ ngơi, nên làm chgo Tỳ vị yếu them.

- Khi bụng đói, Trà đậm sẽ cưỡng chế việc tiết dịch vị, làm cho bụng khó chịu, khiến cho đường tiêu hóa sau này sẽ bị trở ngại, có thể bị những triệu chứng nhức đầu, hoa mắt, tim đập mạnh, có hại cho sức khỏe.

- Thần kinh suy nhược, Trà đậm sẽ làm mất ngủ, như thế làm cho thần kinh suy nhược thêm.

- Phụ nữ có thai không nên uống Trà đậm vì trong Trà có lượng Cà-phê giảm chất kiềm, thai nhi sẽ hấp thụ, như vậy không có lợi cho sự phát dục của thai nhi.

- Trẻ em không nên uống nước Trà đậm vì Trà làm kết tủa sắt có trong thức ăn, ảnh hưởng đến sự hấp thụ, dẫn đến tình trạng thiếu máu.

 

Hội trà

 

Ngoài các lối uống trà đơn giản đến cầu kỳ trong các gia đình Việt Nam, các cụ ngày xưa còn có những hình thức hội trà. Ðó là uống trà thưởng xuân, uống trà thưởng hoa, uống trà ngũ hương. Hội trà là tụ họp những người bạn sành điệu cùng chung vui trong các dịp đặc biệt hoặc có hộp trà ngon, hay có một chậu hoa quý hiếm trổ, hay trong nhà có giỗ chạp.

Thưởng trà đầu xuân là thói quen của các cụ phong lưu, khá giả. Trước Tết các cụ tự đi chọn mua các cành mai, đào, thuỷ tiên hay các chậu hoa lan, hoa cúc ở tận các nhà vườn, và chuẩn bị đầy đủ các thứ cần thiết nhất là một lọ Trà hảo hạng. Tối giao thừa pha một bình Trà, trước cúng gia tiên, sau ngồi thưởng thức Trà ngon, để tâm lắng đọng nghĩ tới công ơn dưỡng dục mẹ cha, kiểm điểm lại thành quả một năm sự nghiệp đã làm thành công và thất bại, vạch ra một tiền trình cho năm mới sự nghiệp và hạnh phúc gia đình. Sáng mồng một, pha một bình trà và ngồi chỗ thích hợp nhất, thường là giữa nhà. Các cụ ngồi tĩnh tâm, ngắm nhìn những đoá hoa nở rộ và thưởng trà. Khoảng 8 giờ sáng, cả đại gia đình sum hợp quanh bàn trà chúc thọ các cụ và nghe những lời dạy dỗ của các cụ. Trẻ con thì chờ lì-xì.

Uống trà thưởng hoa quý như hoa Quỳnh, hoa Trà cũng là cái thú của nhiều người. Khi nhà cụ nào có một chậu hoa trổ, cụ chuẩn bị và mời các bạn già sành điệu tới ngắm hoa, luận bàn thế sự, hay dặn dò con cháu.

 

Hội trà ngũ hương

 

Chỉ giới hạn có năm người thôi. Trên khay trà có năm lỗ trũng sâu, dưới các lỗ trũng đó để năm loại hoa đang độ ngát hương: Sen, Ngâu, Lài, Sói, Cúc. Úp chén trà che kín các hoa lại rồi mang khay để trên nồi nước sôi cho hương hoa bắt đầu xông lên bám vào lòng chén. Pha bình trà cho thật ngon rót đều vào từng chén, mỗi người tham dự sau khi uống trà phải đoán hương trà mình đã uống và nhận xét. Sau mỗi tuần trà lại hoán vị các chén trà để mọi người đều thưởng thức được hết tinh tuý của năm loại hoa.

Ngày nay số trà nô càng ngày càng thưa dần theo vận tốc của nền văn minh cơ khí, con người phải chạy theo cái ăn, cái mặc để kiếm sống còn đâu thời giờ để cho các cụ thơ thẩn lảng mạn bơi thuyền trong trăng để múc ánh trăng vàng.

Phạm Ðình Hổ (1768-1839) trong Vũ Trung Tuỳ Bút viết về cách uống Trà thời bấy giờ như sau : “Ta sinh trưởng đương lúc thịnh thời Cảnh Hưng, trong nước vô sự, các nhà quý-tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý phái đều đua chuộng xa-xỉ có khi mua một bộ ấm chén phí tổn đến vài mươi lạng bạc. Kẻ thì ưa thanh cao, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ tên, mua cho được trà ngon, bày khay chén ra nếm thử. Thậm chí có kẻ đặt tiền mua sẵn cho được hiệu chữ Chính Sơn, gửi tàu buôn đặt cho kiểu ấm chữ mới lạ… Buổi sớm giờ mão, buổi chiều trăng trong, với bạn làng thơ cũng là chủ khách, mà ung dung pha ấm trà thưởng thức thì tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục… Lò, siêu, ấm, chén lại chế ra nhiều kiểu thích dụng… hỏa lò từ Tô Châu, than tàu đem sang bên ta bán.”

Và sau hết, xin mời đọc trích đoạn bài Chén Trà Trong Sương Sớm của Nguyễn Tuân trong Vang Bóng Một Thời để thấy rõ các cụ xưa uống Trà:

“… Gió bấc thổi qua những kẽ cánh cửa bức bàn đã gửi vào nơi yên lặng này mười lăm tiếng gà không nhẫn nhục được với tối tăm. Từ ngoài phía ngõ râm bụt lượn sát nhà gạch, dội vào những tiếng bước chân người nằng nặng nhè nhẹ. Cuộc đời hồi tỉnh lại dần dần.

Cụ Ấm phẩy quạt nan phành phạch theo một nhịp nhanh chóng trước cửa hỏa lò. Hòn than tàu lép bép nổ, nghe rất vui tai. Và làm vui cho cả mắt nữa, những tàn lửa không có trật tự, không bị bó buộc kia còn vẽ lên một khoảng không những nét lửa ngang dọc, ngoằn ngoèo. Những lúc có cháu nhỏ ngồi với mình, cụ Ấm thường hỏi xem chúng xem pháo hoa cải như thế có thích không.

Những hòn than tàu cháy đều, màu đỏ ửng, có những tia lửa xanh lè vờn quanh. Không khí mỗi lúc giao động càng nâng cao thêm những lưỡi ngọn lửa xanh nhấp nhô. Hòn lửa rất ngon lành, trở nên một khối đỏ tươi và trong suốt như thỏi vàng thổi chảy.

Thỉnh thoảng, từ hòn than tự tiêu diệt buộc ra một tiếng khô, rất khẽ và rất gọn. Thế rồi hòn than sống hết một đời khoáng chất. Bây giờ hòn than chỉ còn là một điểm lửa ấm ấp trong một cái vỏ tro tàn dầy và trắng xốp. Cụ Ấm vuốt lại hai mái tóc trắng, cầm thanh đóm dài đảo lộn tàn than trong hỏa lò, thăm hỏi cái hấp hối của lũ vô tri vô giác. Cụ Ấm bỏ thêm một vài hòn than hoa nữa vào hỏa lò. Than hoa không nổ lép bép như than tàu; nhưng từ ruột ấm đồng nung nấu đã lâu, có tiếng thở dài của khối nước sắp biến thể. Nước đã lên tiếng để nhắc người ta nghĩ đến nó.

Cụ Ấm cũng thở đánh phù một cái, như khi người ta được gặp lại bạn cố nhân sau nhiều giây phút mong chờ.

Cụ khẽ nâng vuông vải tây điều phủ trên khay trà gỗ khắc có chân quỳ. Nhẹ nhàng, khoan thai, cụ Ấm nhắc cả đĩa dầm chén tống chén quân ra khỏi lòng khay. Ðến lúc dờ tới cái ấm con chuyên trà thì cụ kểnh càng hơn. Cụ ngắm nghía mãi chiếc ấm màu đỏ da chu, bóng không một chút gợn. Dáng ấm làm theo hình quả sung và khi luyện đất cho vào lò lửa, nguời thợ Tầu lấy dáng cho ấm kia đã là một người thợ có hoa tay. Cụ Ấm thử mãi da lòng tay mình vào mình cái ấm độc ẩm, hình như cố tìm tòi một chút gợn trên đất nung để được sung sướng thêm hơn nữa sau khi nhận thấy cái ấm độc ẩm kia là nhẵn nhụi quá.

Nước sôi già lắm rồi. Nhưng thói quen vẫn bắt cụ Ấm rót thử một chút nước xuống đất xem có thực là sôi không. Mở đầu cho công việc vụn vặt trong mỗi ngày tàn còn lại, ông già sợ nhất cái ấm trà tàu pha hỏng lúc sớm mai. Từ trên bề cao cỗ sập, dòng nước sôi trút mạnh xuống nền đất trị, tiếng kêu lộp bộp.

Trên chiếc hỏa lò để không, cụ đã đặt them một ấm đồng cò bay khác. Những người uống trà dùng cách thức như cụ Ấm bao giờ cũng có ít ra là hai ấm đồng đun nước. Ấm nước sôi nhắc ra khỏi lò than là đã có chiếc ấm thứ hai đặt lên đấy rồi. Và hai ấm đồng đó cứ được mãi mãi thay phiên nhau đặt lên lò than đỏ rực. Bữa nước trà cứ kéo dài không hết hồi, người ta luôn tay có một thứ nước sôi đủ độ nóng để pha một ấm trà ngon.

Nhưng có mấy khi cụ Ấm uống trà tàu nhiều đến thế. Riêng về phần cụ, chỉ hai chén con là đủ rồi. Nhưng hai chén đó đã được cụ săn sóc đến nhiều quá.

Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, cụ Ấm đã để vào đấy nhiều công phu. Những công phu đó đã trở nên lễ nghi. Trong ấm trà pha ngon, người ta nhận thấy có một mùi thơ và một vị triết lý.

Cụ Ấm sau mỗi lần nhỡ gặp phải ông khách tạp, uống trà rất tục, cụ thường nói với vài bạn nhà nho:

- Có lẽ tôi phải mua ít chén có đĩa ở hiệu Tây, để mỗi khi có mấy thầy làm việc bên Bảo Hộ tới thì đem ra mà chế nước pha sẵn trong bình tích. Các cụ cứ suy cái lẽ một bộ đồ trà chỉ có đến bốn chén quân thì các cụ đủ biết cái thú uống trà tàu không có thể  ồn ào được. Lối giao du của cổ nhân đạm bạc chứ không huyên náo như bây giờ. Chỉ có người tao nhã, cùng một thanh khí, mới có thể cùng nhau ngồi bên một ấm trà. Những lúc ấy, chủ nhân phải tự tay mình chế nước, nhất nhất cái gì cũng làm lấy cả, không dám nhờ đến người khác, sợ làm thế thì mất hết cả thành kính. Tôi còn nhớ hồi nhỏ, còn là học trò quan Ðốc, tôi đã được cái vinh dự sớm dậy, sớm nào cũng như sớm nào, đứng hầu trà cụ Ðố, trước khi cụ giảng bài và chấm cho anh em tập quyển. Nhiều người đã ghen tị với tôi và kêu ca với cụ Ðốc xin để cắt lượt học trò hầu trà, cho anh em ai nấy đều được chút vinh dự gần gũi thày và sớm chiều được gần cái đạo của thầy. Quan Ðốc mỉm cười: “Thầy giã ơn các anh. Thầy nói thì các anh đừng giận: các anh không pha trà cho hợp ý thầy được đâu. Ðể thời giờ ấy mà học. Anh Ðam – (trước kia tôi là Ðởm, sau sợ phạm húy nên cụ Ðốc mới đổi tên đi cho) – anh Ðam pha trà khéo thì thầy để cho giữ việc hầu thầy, chứ có phải thầy yêu anh Ðam hơn hay là ghét các anh đâu”. Bây giờ mỗi buổi trà sớm, ngồi uống một mình, tôi cứ nhớ cái tiếng ngâm của quan Ðốc. Sớm nào vậy, cụ cũng ngâm một vài bài thơ. Giọng thật ấm, thật trong. Cụ hay ngâm mấy câu này:

Bán dạ tam bôi tửu.

Bình minh sổ chản trà.

Mỗi nhật cứ như thử.

Lương y bất đảo gia.

Một buổi sớm, thấy rõ lòng thầy là vui vẻ, tôi đã mạn phép đọc để cụ Ðốc chữa cho bài diễn nôm:

Mai sớm một tuần trà.

Canh khuya dăm chén rượu.

Mỗi ngày mỗi được thế,

Thầy thuốc xa nhà ta.

Cụ Ðốc tạm cho là được.

Sớm nay, cụ Ấm cũng ngâm thơ. Cụ tin rằng ngâm thơ lúc yên lặng, lúc mới tỉnh giấc là một cách vận động thần khí kỳ diệu nhất của một người sống bằng cuộc đời tâm tưởng bên trong. Mỗi buổi sớm ngâm như thế là đủ tiết hết ra ngoài những cái nặng nề trong thân thể và để đón lấy khí lành đầu tiên của trời đất. Âu cũng là một quan niệm về vệ sinh của thời cũ. Và người xưa uống trà là để giữ mình cho lành mạnh.

Thường hay vấn mình để sửa mình, cụ Ấm thường nghĩ đến câu nghìn xưa của thầy Tăng Tử: “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân”, vào những giờ uống trà này.

Trong nhà cụ Ấm, người ta đã ồn ào thức dậy. Cụ Ấm cũng bắt đầu ho. Chừng như hồi nãy, cụ đã tự nén hơi thở không dám ho, sợ làm đục mất cái phút bình lặng huyền bí của lúc đêm và ngày giao nhau.

Người con trưởng rón rén lại hỏi thăm sức khỏe của cha và mon men ngồi ghé vào thành chiếc sập cũ. Chàng đỡ lấy quạt, nhắc hỏa lò ra một chỗ rộng, quạt mạnh cho hết tàn than.

- Thầy uống xong rồi. Con uống thì pha mà uống. Trà còn đợm hương lắm.

Câu nói này là thừa. Vì sớm nào hai cha con ông Ấm chẳng dậy sớm để uống trà, cha bao giờ cũng uống trước hai chén và người con cả uống sau nhiều lắm đến ba chén là cùng. Sớm nay, cũng như lúc thỉnh thoảng của mọi ngày, cụ Ấm lại bắt người trưởng nam giở tập Cổ Văn ra bình lại cả bài “Trà Ca” của Lư Ðồng. Giọng bình văn tốt quá. Ðiệu cổ phong trúc trắc thế mà con cụ Ấm lại còn ngâm gối hạc bắt đoạn cuối một câu trên xuống luôn đầu câu dưới, hơi ngâm trong và dài. Trông hai tra con uống nước mà y như là một đôi thầy trò vào một giờ học ôn buổi sớm mai. Chuyện vãn mãi về trà tàu, ông cụ Ấm lại mang luôn cả tập “Vũ Trung Tùy Bút”, giảng những đoạn công phu của Quốc Tử Giám Tế tửu Phạm Ðình Hổ chiêm nghiệm và xưng tụng về trà tàu. Rồi cụ Ấm liền than tiếc đến cái mùa thu đã đi mất rồi, để sen hồ rách hết tàn rũ hết lá. “Cả ạ, thầy cho nước pha trà không gì thơm lành bằng cái thứ nước đọng trong lá sen. Mỗi lá chỉ có ít thôi. Phải gạn vét ở nhiều lá mới đủ uống một ấm. Hồi thầy còn ít tuổi, mỗi lúc được quan Ðốc truyền cho đi thuyền thúng vớt những giọt thủy ngân ấy ở lá sen mặt đầm, thầy cho là kỳ thú nhất trong đời một người học trò được thầy học yêu tin.”

Trong gia đình cụ Ấm, hồi gần đây đã lập lại cái phong tục uống trà. Có một hồi bần bách quá, cụ Ấm đã cất hẳn bộ đồ trà vào tủ, tưởng không bao giờ được bày nó ra hằng ngày nữa. Nhưng trời kể cũng còn hậu đãi người hàn nho, thế nào năm nay nhà cụ Äm lại được mùa cả hai vụ.

- Này Cả, con lên tỉnh mua trữ lấy ít trà Lý Tú Uyên. Năm nay ta ướp thêm vào vài chục chai để dành. Thủy tiên nhà, năm nay gọt những một lắp đấy. Thầy mua chung với cụ Kép xóm dưới! Ðộ mai kia thì rò hoa tách hết màng. Củ nào hoa kép thì đem ủ trà.

- Thưa thầy, con tuởng trà cứ để nguyên hương của nó mà uống. Con thấy ông ngoại nhà không bao giờ cho ướp trà mới, bất cứ là với hoa thơm nào. Ông ngoại con bảo chỉ nên ướp, là lúc trà đã đi hương hoặc gần phát du.

Trời rạng dần. Một chút nắng đào lóng lánh trong cái đám cây một chiếc lại một chiếc, đang rụng lá năm cũ.

 

Dạ Phong

 

Đồ gốm Việt trong văn hóa Trà

Đồ gốm Việt trong văn hóa Trà

” Việt Nam đã biết đến trà thời Ðông Hán, nhưng trà đạo Việt thành hình vào đời nhà Ðường, theo các nhà sư Phật giáo và Giao Châu … “

Đồ gốm Việt trong văn hóa Trà

Đồ gốm Việt trong văn hóa Trà
Gốm TRÀ việt 3

Đồ trà mới vẽ theo phong cách chu đậu

Gốm Trà Việt

 

Việt Nam đã biết đến trà thời Ðông Hán, nhưng trà đạo Việt thành hình vào đời nhà Ðường, theo các nhà sư Phật giáo và Giao Châu. Sách Trà Kinh của Lục Vũ nhập đề rằng “trà là loài cây lớn ở phương nam”. Chứng tích Trà đạo trong Trà phong Việt còn lưu lại trên những bình bát trà gốm Việt Dao từ thời bắc thuộc, lên đến tột đỉnh thời Phật giáo Lý, Trần. Ðạo trà Việt cổ là đạo mà không đạo, đạo vô môn quan: không cửa vào, không lối ra.

Tương truyền Bồ Ðề Ðạt Ma từ Tây Trúc sang Tàu chín năm ngồi ẩn trong hang thiền định. Mắt sụp xuống buồn ngủ, ông cả giận bứt mi mắt vất xuống đất, chỗ ấy mọc thành cây trà đầu tiên. Chuyện hoang đường này cốt đồng hóa trà cho sự thức tỉnh Ðịnh Huệ. Hoa ngữ Cha (Trà) và Chan (Thiền) nghe đồng âm và đồng nghĩa. Từ đó, trà là bạn người tu thiền như hình với bóng. Tổ thứ sáu thiền Tào Khê là Huệ Năng, tự nhận là người Man di miền Ngũ Lĩnh, xứ của trà.

Lục Vũ là một cuồng sĩ đất Hồng Tiệm đời Ðường, thường lang thang ngâm thơ rồi khóc rống. Ông để lại cho đời sách Trà Kinh gồm ba quyển bàn về trà, gốm trà, cách pha và uống trà, được người đời sau gọi là ông tiên trà, thờ làm sơ tổ trà pháp Trung Quốc.

Trà Kinh chép: Trà là loài cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử, hoa như hoa bạch tường vi, trái như trái banh lư, nhụy như nhụy hoa đinh hương, mùi vị rất hàn (lạnh).

Sách Quảng Bác Vật Chí chép: cao lư là tên riêng của một thứ trà, lá to mà nhụy nhỏ, người nam dùng để uống.

Trà Kinh lại chép: “Người phương Nam có cây qua lô giống như lá trà non mà nhụy đắng, giã nát ra pha trà mà uống thì suốt đêm không ngủ. Ở Giao Châu và Quảng Châu người ta rất quý thứ này, hễ có khách đến nhà thì trước hết bày ra đãi khách”. Theo lời Ðào Hoàng Cảnh, một ẩn sĩ tài hoa đời Nam Bắc Triều thì bọn xử sĩ trong thiên hạ rất chuộng thứ trà này.

Theo sách Nghiêm Bác Tạp Chí trích lời Lý Trọng Tân học sĩ nói: “Trà ở Giao Chỉ như rêu xanh, vị cay gắt gọi là trà đăng” (tức là mạt trà). Những núi ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa có trồng thứ trà này. Cây trà mọc liên tiếp che khắp rừng. Người bổn thổ hái lá, giã cho nát, phơi khô trong bóng mát, nấu mà uống, tính nó hơi hàn, có thể làm mát tim phổi và ngủ ngon.

Cửu Chân, tên gọi Thanh Hóa đất Việt cổ có: núi đặt tên chữ là Trà Sơn, người ta gọi nôm là núi Chè. Sách An Nam Chí lược chép: nhà Trần mỗi lần đi sứ nhà Nguyên đều cống trà thơm làm thổ sản quý.

 

Cái đẹp của Bát Trà

 

Gốm TRÀ việt 4

Bát men trắng đơi Lý ám họa mây

 

Ðời xưa, khi nhà Tống bên Tàu dựng nghiệp, chọn núi Thiên Mục ở Triết Giang làm chủ sơn, phúc địa mong cầu vững bền triều đại. Nhà Lý bên ta chọn núi Tiên Du; cũng như nhà Trần ngóng về núi Yên Tử, nơi vua dựng nhà Trần lui về ẩn tu sau việc nước.

Từ thuở triều Hán, Ðường, Tùy sứ ta đã chế được thứ gốm tên gọi Việt Dao. Gọi tên như thế để chỉ thứ “men tro” trổ màu xanh biếc như ngọc cổ. Sách Tàu chép Việt Dao phát sinh từ Nam Việt miền Ngũ Lĩnh, chứ không nói rõ đất Giao Châu, Cửu Chân. Di chứng khảo cổ học, trên đất ta nay tỏ rõ thời ấy ta đã làm được gốm Việt Dao, mà lại làm một số lượng rất lớn, khởi từ những giọt men xanh nhiễu đọng trên thân gốm, mà nay xếp vào loại gốm “Hán bản địa”.

Từ màu xanh bích ngọc đời Bắc thuộc đến màu xác trà đời Lý, Trần, những bát trà Việt ra đời song song bát trà Ðường, Tống bên Tàu. Người Việt vẫn trung thành sở thích sắc màu Việt Dao của dân tộc đến mãi thế kỷ 15. Hóa ra Việt Dao là chữ gọi dân tộc ngày nay ta vẫn mang tên, là người chế ra men gốm tiền thân gốm men ngọc lừng lẫy Ðông phương.

Ðời Lý, Trần đã làm ra rất nhiều các thứ liễn, bình đựng nước pha trà đi đôi với các loại bát trà mang thần thái đặc thù Ðại Việt. Bình trang hoàng tòa sen chạm nổi, âu bát vóc dáng chẳng khác nào bình bát các tăng sư. Làng nào cũng có đình chùa. Bát trà cũng là vật không thể thiếu được trong các đồ tế nhuyễn bày trên điện thờ, cũng như cúng vào chùa chiền để các sư uống trà. Nghệ phẩm từ các làng gốm như chở chuyên hồn đạo, tiếng chuông mõ sớm hôm, mùi trầm nhang quyện trong không gian lũy tre làng trên đất nước. Thiền gốm Lý, Trần đã mang cung cách rất Việt Nam. Văn bia đời Lý do sư Pháp Ký soạn cho thầy là sư Tịnh Thiền ghi rằng “Chỗ uống trà là chỗ thập phương thí chủ dồn về”. Chỗ uống trà tức là cửa Phật. Nay ngắm những trà khí cổ, ta mới biết phép uống trà Việt lồng trong thiền vị từ thuở đầu dựng nước, đưa hình sắc của tâm linh đến cả đại chúng.

 

Bát trà Việt trong trà đạo Nhật

 

Tại nền chùa cổ Dazaifu Kanzeon-ji người ta đào được những mẫu gốm vỡ của bát trà Ðại Việt đời Trần, kề bên mảnh ván mục còn đọc được vết mực ghi niên đại tương đương năm 1330. Trước đó, đã có những trà khí Ðại Việt xưa hơn vào chốn tăng đường Nhật.

Ðầu thế kỷ 13, thượng sư Eisa từ Trung Hoa mang về Nhật Bản lần đầu giống cây trà. Sau đó, đệ tử Ngài là sư Dogen sang du học tại chùa Thiên Mục Sơn, khi về nước có người hỏi sư học được gì, sư đáp: “Không có chi nhiều ngoài pháp an tâm”. Pháp an tâm sư mang về cùng trà đạo và bát trà Thiên Mục (tiếng Nhật gọi là Temmoku). Dogen được coi là sư tổ của trà đạo Nhật Bản vậy.

Cũng như Ðại Việt, bấy giờ Phật giáo Nhật bén rễ vào giới thế quyền. Tăng sư là khách quý của các sứ quân và bọn phú hào. Họ học Phật rồi tiêm nhiễm luôn đạo thưởng trà. Uống trà nhằm luyện con người khu trừ những chướng ngại phiền não, để đạt chỗ rốt ráo của an bần lạc đạo, hòa đồng với Tự Nhiên, tức là Chân Như.

Uống trà, hành trà đạo phải có các trà khí mà ngành gốm Nhật bấy giờ rất phôi thai. Nên trà gốm từ Cao Ly, Trung Quốc, Ðại Việt đưa sang giá đắt, chỉ giới hạn trong hàng sứ quân và đại phú. Thay vì hấp thu nếp thanh bần, họ bèn mượn trà đạo làm trò trà dư tiêu khiển, đặt ra các quy tắc kiểu cách (Cha No Yu), muốn vào phải qua cổng Hữu Môn Quan. Trà đã đưa thiền vị đạm bạc vào trú ngụ chỗ đền các xa hoa. Trong khuôn viên cung đình nguy nga, các chúa công sai dựng nên trà thất bắt chước lều cỏ bần hàn của ẩn sĩ để  hành trà đạo. Còn bên nước Việt, đạo đã từ cung cấm ra đi, bỏ phú quý phù vân để phiêu bồng nơi cảnh thật của “rừng trúc lắm chim” (Trúc lâm đa túc điểu) như thơ ngài Huyền Quang. Các vua Lý, Trần bỏ kinh về núi, thực hiện hạnh tầm đạo dẫm theo bước của thái tử Tất Ðạt Ða.

Từ bát trà Thiên Mục, về sau trà gốm Trung Quốc xa lìa hồn đạo, ngày càng tinh kỳ sắc sảo để thỏa mãn thị hiếu vua quan, kẻ nhà giàu thích trưng bày đồ mỹ ngoạn, thành kỹ nghệ xuất đi các nước. Lấy cảm hứng từ mầu xanh xác trà Việt Dao (proto-celadon), gốm Trung Quốc tiến hóa thành mầu men ngọc xa hoa (celadon), của lò Diệu Châu Bắc Tống, lò Long Tuyền Nam Tống. Trong khi nước Việt vẫn chuộng giữ mầu xác trà “thuận tự nhiên” cốt cách đạm bạc của tổ tiên.

Khi các trà sư Nhật ra tay đón nhận bát trà Việt ấy, con mắt trong tâm hồn họ như thoát nhiên thể ngộ được ấn chỉ tâm truyền ấy.

Quan hệ Trung Quốc, Nhật Bản sinh thù nghịch từ thế kỷ 14, hồi quân Nguyên Mông sang đánh Nhật, bị ngọn Thần Phong diệt. Khi nhà Minh lên ngôi, từ năm 1371 ra lệnh cấm dân duyên hải xuất ngoại. Ðến năm 1567, mới bỏ luật này, nhưng vẫn cấm vượt biển sang Nhật Bản vì nạn “Nuỵ khấu” (cướp lùn), quẫy nhiễu bờ biển Trung Quốc. Suốt mấy thế kỷ đó, Nhật đã tìm thấy nơi Ðại Việt của nhà Lê nguồn cung cấp tơ sống và gốm sứ.

Lúc này Ðại Việt đã làm sứ vẽ lam. Gốm sứ trà Việt nhập vào Nhật Bản nhiều hơn trước, đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật trà đạo Nhật Bản đang hồi cực thịnh. Không gò gẫm tỷ mỷ như bàn tày nghệ nhân đời Minh, mấy nét đơn sơ trên gốm Việt phóng bút cảnh chim trời, cá nước, sơn thủy, tùng thạch v.v… xuất cái thần vị Thiền Lão, chẳng khác nào tranh tốc họa Sumi-e, và thuật thư pháp, rất hợp với tâm hồn trà nhân Nhật, làm họ say mê. Vẽ gốm như vẽ tranh Thiền. Di sản tranh cổ họa Việt Nam ngày nay chừng như có thể thấy trên gốm cổ.

Nhật Bản là một dân tộc hoài cổ và có khiếu thẩm mỹ từ những vật nho nhỏ. Ngày nay trong các viện bảo tàng khắp nước này trân quý giữ những món trà khí Việt từ đời Lý – Trần – Lê – Mạc đã liên tục đến Nhật Bản qua bao thế kỷ. Trong hậu sảnh những thiền viện xưa, còn cất giữ những đồ tế nhuyễn và trà khí làm bởi những nghệ nhân vốn là người mộ Phật ở xứ Việt xa. Và trong lâu đài cổ, truyền thừa các sứ quân và giới phú hào ngày nay còn gia truyền các bộ gốm sứ Việt Nam làm báu vật. Bộ sưu tập gốm Việt trứ danh nhất của dòng họ thương nhân Ozawa Shrouemon từ Hội An trở về Nhật Bản năm 1638, khi chúa Tokugawa cấm dân Nhật xuất dương. Chiếc bát vẽ mầu “Beni-Annam” ngày ngày chúa Tokugawa ưa dùng thưởng trà nay là báu vật trong lâu đài của chúa ở Nagoya v.v…

 

Gốm trà việt 1

Bát men trắng đời lý với 5 dấu con kê

 

Dòng trà gốm đầu tiên Raku đã mang dáng bát trà Lý, Trần. Về sau truyền thừa dòng gốm này và các trường phái khác thường mô phỏng theo mỹ thuật gốm nước ta. Họ gọi là Annam Yaki để chỉ cho dòng gốm hoa lam của lò Chu Ðậu, Bát Tràng ở Ðàng Ngoài thời Lê, Mạc; và Kochi Yaki, tức gốm Cochin China xứ Quảng Nam Ðàng Trong của chúa Nguyễn về sau.

Sử Nhật chép vị sơ tổ dòng gốm Raku tên là Zengoro, còn một hiệp sĩ theo phò lãnh chúa Ashikaga, ông làm gốm tế nhuyễn cho thiền viện Kasuga, và trà khí cho tăng sư hành trà đạo. Con cháu về sau lấy đó làm nghiệp nhà.

Truyền thừa đời thứ 10, Zengoro Ryozen vẫn làm gốm lối gia truyền, và khởi đầu bát trà lừng danh Raku. Ông còn biệt tài mô phỏng trà gốm của An Nam (Annam Yaki) và Cochin China (Kochi Yaki). Ðến đời con nối dõi, Zengoro Hogen là một nghệ sĩ tài hoa nhất trong dòng họ. Ông nổi tiếng chuyên làm gốm ba mầu (tam thái) kiểu Kochi Yaki, gồm mầu lục, tím đỏ và vàng, mỗi mầu ngăn cách nhau bằng những nét chạm nổi. Hogen được lãnh chúa Tokugawa đất Kishu thu dụng và sủng ái, ban cho chiếc ấm bạc chạm tên Eiraku (Vĩnh Lạc) lưu danh trên tác phẩm, coi tài nghệ ông ngang hàng các tuyệt phẩm đời vua Minh bên Tàu cùng tên, đầu thế kỷ 15. Chúa còn ban cho ông một ấn vàng, chỉ được dùng đóng tên lên các món trà khí được chúa chuẩn nhận.

Năm 1659, một nghệ sĩ gốm người Tàu mà người Nhật gọi tên là Chin Gempin mở lò chuyên sáng tác những trà gốm bằng loại gốm tiêu biểu dòng Seto: mầu trắng rạn mịn tựa ngà cổ, mô phỏng kiểu gốm Bát Tràng của An Nam xuất sang Nhật Bản hồi trước. Ông trang trí trên gốm cảnh sơn thủy, hoặc đề thư pháp thơ cổ bằng mầu lam xanh.

Dòng gốm Kutani, chuyên làm gốm mầu sặc sỡ, trong đó có loại bắt chước làm gốm sứ cổ Tàu, Việt. Năm 1810, thương nhân giàu có tên Yoshidaya Denyemon tái dựng lại những lò gốm đã đóng cửa ở Kutani, để phục chế kiểu gốm Kochi Ðàng Trong Việt Nam đời trước.

Mokubei (1767-1833), là bậc văn nhân theo mẫu truyền thống đông phương. Ông làu thông kinh sách có khiếu làm thơ, vẽ tranh, tạo gốm, môn nào cũng tài hoa. Ông bắt chước làm các món sứ cổ, khéo léo chẳng phân biệt mới cũ đâu vào đâu. Ông đặc biệt mô phỏng các tiêu bản trà gốm Cochin China không sai sẩy, tác phẩm này nay trưng bày trong Viện Bảo tàng Nghệ thuật Tokyo.

Thế kỷ 20, những nghệ sĩ học giả Tây phương nào đến Nhật Bản bị cuốn hút trong đạo vị nền văn hóa nghệ thuật Nhật, dĩ nhiên đều mê say các cổ trà gốm Việt tại Nhật Bản. Các tên tuổi: William Willets, Stephen Addis, Hugo Munsterberg, Hazel H.Gorham, John Stevens… dày công nghiên cứu và giới thiệu cái đẹp trong văn hóa Nhật đến Tây phương. Qua họ, thế giới lần đầu tiên biết đến bát trà Việt trong trà đạo Nhật. Lừng lẫy nhất là nhà nghệ sĩ gốm kiêm đạo gia người Anh Bernard Leach, từng trải suốt đời học hỏi và sáng tạo tại Nhật Bản, được lão sư dòng gốm Kenzan thu nhận và ban ấn truyền thừa. Trong sự nghiệp tầm thầy học đạo, ông học qua thuật làm gốm nung Kochi Yaki, tức gốm Ðàng Trong Việt cổ tại Nhật Bản. Ông trân quý vô ngần một bát trà gốm trắng sứt mẻ đời Lý trong bộ sưu tập riêng mình. Về già, ông là bạn tâm đắc của Shoji Hamada, một đạo sư gốm Nhật Bản. Cả hai thuộc vào hàng bốn tên tuổi thượng thừa của ngành gốm hiện đại. Cả hai đều ưa thích sưu tầm bát trà cổ Việt, dùng đó làm tiêu bản học bí quyết làm gốm của cổ nhân.

 

Gốm TRÀ việt 2

Bát men trắng đơi Lý ám họa bát bửu

 

Hai nước đều thấu nhập tinh hoa văn hóa Trung Quốc, nhưng nghệ thuật gốm trà Việt – chứ không phải Tàu – đã gây ảnh hưởng lớn trong lịch sử trà đạo Nhật, cho thấy tâm hồn và lòng rung cảm cái đạo Ðẹp của hai dân tộc đời cũ rất gần nhau. Nghệ thuật dân gian Nhật (mingei) mang những hình thái không khác mấy với nghệ thuật làng quê truyền thống Việt Nam.

 

Sưu tầm: Dạ Phong

 

Thiền Trà Làng Mai

Thiền Trà Làng Mai

” Thời ấy, Sư Ông là người trực tiếp hướng dẫn các thầy, các sư cô về pháp môn thiền trà. Sư Ông dạy cách bày bánh, cách dâng hương, cách rót trà, dâng trà …. “

Thiền Trà Làng Mai

Thiền Trà Làng Mai
Thiền Trà Làng Mai

Một buổi Thiền Trà

 

Vào những năm 80 của thập kỷ trước, khi mới thành lập Làng Mai, lúc đó sức khỏe của Sư Ông còn rất dồi dào và thiền sinh tới tu tập chưa đông như bây giờ. Thời ấy, thiền sinh nào có khó khăn đều được tham vấn riêng với Sư Ông. Sau đó, pháp môn lan rộng, càng ngày thiền sinh tới tu tập càng đông, lúc đó Sư Ông không thể tiếp riêng từng vị được nữa, nên Sư Ông mới nghĩ ra cách tổ chức một buổi ngồi chơi, uống trà với từng nhóm thiền sinh. Mỗi nhóm khoảng từ mười tới mười sáu người. Như vậy, cùng lúc Sư Ông có thể lắng nghe những khổ đau của nhiều người một lần và tháo gỡ khó khăn giúp họ. Để giúp cho các vị thiền sinh định tâm và không khí được trang nghiêm thanh tịnh, buổi thiền trà có thêm phần nghi lễ như dâng hương, đảnh lễ, ngồi yên lặng… Những nghi lễ như pha trà, mời trà, mời bánh cũng nhằm mục đích tạo sự chăm chú theo dõi của các vị thiền sinh, khi ta chú tâm theo dõi các hành động hết sức chánh niệm của các thầy, các sư cô trà giả thì tâm ta bắt đầu an trú, mà an trú được thì sẽ có bình an, khổ đau sẽ tan biến.

Thời ấy, Sư Ông là người trực tiếp hướng dẫn các thầy, các sư cô về pháp môn thiền trà. Sư Ông dạy cách bày bánh, cách dâng hương, cách rót trà, dâng trà. Trước mỗi buổi thiền trà nghi lễ, Sư Ông thường trực tiếp cùng hai sư cô chuẩn bị cho buổi lễ. Và vì số người tới tu tập đã rất đông nên chỉ những thiền sinh nào ở lại Làng Mai tu tập trọn một tháng thì mới được mời tham dự thiền trà nghi lễ, và tới tuần thứ ba trong tháng, vị ấy mới được mời tham gia

Như vậy, thiền trà Làng Mai ra đời với mục đích ban đầu là tạo điều kiện cho thiền sinh được gần gũi và tham vấn với Sư Ông. Pháp môn thiền trà được đón nhận rất hồ hởi nên mỗi khi kết thúc một khóa tu, tất cả các vị thiền sinh đều được mời tham dự vào buổi đại thiền trà. Trong buổi đại thiền trà này thiền sinh chia sẻ rất nhiều về những chuyển hóa trong họ, về niềm vui khi được biết tới pháp môn thực tập cũng như lòng biết ơn của họ đối với Sư Ông và Tăng thân.