Nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

Nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

” Trong suốt chiều dài phát triển của ấm tử sa đã xuất hiện rất nhiều nghệ nhân nổi tiếng với những kỹ thuật chế tác độc đáo, sáng tạo khác nhau … “

Nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

Nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

Trong suốt chiều dài phát triển của Ấm Tử Sa đã xuất hiện rất nhiều nghệ nhân nổi tiếng với những kỹ thuật chế tác độc đáo, sáng tạo khác nhau, tuy nhiên trong loạt bài viết này tôi sẽ chỉ đề cập tới một số nghệ nhân trong thế kỷ XX những người có cống hiến rất lớn cho ngành ấm tử sa. Hai nghệ nhân vẫn thường được nhớ đến nhiều nhất là Cố Cảnh Chu và Tưởng Dung không chỉ bởi những tác phẩm họ tạo ra mà những học trò của họ cũng rất xuất sắc.

 

Cố Cảnh Chu

 

Cố nghệ nhân Cố Cảnh Chu (1915 – 1992) là một người thầy vĩ đại về nghệ thuật ấm tử sa của Trung Quốc, ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghề thủ công làm ấm. Năm 18 tuổi ông bắt đầu sự nghiệp đầy vẻ vang của mình và chỉ 2 năm sau ông đã là một thợ thủ công có tiếng ở đất Nghi Hưng. Những chiếc ấm do ông tạo ra không chỉ có tính ứng dụng cao mà tính nghệ thuật và thẩm mỹ cũng rất cao. Bên cạnh đó ông cũng tham gia công tác đào tạo và nhiều nghệ nhân nổi tiếng sau này là học trò của ông như: Từ Hán Đường, Lý Cảnh Hồng, v.v… Một số tác phẩm ấm tiêu biểu của ông: Thạch biều, Báo xuân mai, Tăng mao, Liên tử, Châu bàn, Như ý v.v…

 

Nghệ nhân Cố Cảnh Chu và một số dang ấm tiêu biểu

Nghệ nhân Cố Cảnh Chu và một số dang ấm tiêu biểu

 

 

Tưởng Dung

 

Tưởng Dung và một số dáng ấm tử sa tiêu biểu

Tưởng Dung và một số dáng ấm tử sa tiêu biểu

 

Nghệ nhân nổi tiếng tiếp theo cũng thường được nhớ tới là Tưởng Dung, bà cũng là một người thầy vĩ đại của nghệ thuật ấm tử sa mà Trung Quốc đã sản sinh ra. Tưởng Dung sinh năm 1919 trong một gia đình cũng có truyền thống nghề thủ công ở Nghi Hưng, năm 11 tuổi bà bắt đầu theo cha mẹ học nghề làm ấm. Năm 1936 bà cho ra đời tác phẩm Nho sóc, năm 1939 bà gia nhập một công ty ở Thượng Hải chuyên làm đồ giả cổ. Năm 1945 bà quay trở về quê hương Nghi Hưng và chuyên tâm làm ấm. Năm 1955 bà cùng một số người khác đã thành lập hiệp hội nghề làm ấm tử sa ở Nghi Hưng. Từ năm 1966 – 1975 là giai đoạn diễn ra cuộc Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc nên nghề làm ấm tử sa cũng bị gián đoạn. Năm 1975 bà cho ra đời tác phẩm Sen vịt, năm 1977 là tác phẩm Cà tím, Bí ngô. Năm 1995 là tác phẩm Trường thọ, Bích Hoa và còn rất nhiều các tác phẩm tuyệt vời khác. Những tác phẩm của bà thường lấy cảm hứng và cách điệu theo hình dáng của cỏ cây hoa lá và tất nhiên có tính nghệ thuật rất cao. Năm 1955 chiếc Ấm Sen của bà đã được Thủ tướng Chu Ân Lai dùng làm tặng phẩm cho nước ngoài. Bà cũng đào tạo ra nhiều lớp nghệ nhân xuất sắc sau này trong đó phải kể tới con gái bà Tưởng Nghệ Hoa. Trải qua nhiều thăng trầm của nghề làm ấm hiện nay bà đã được công nhận là Đại mỹ thuật công nghệ sư và là giám khảo trong các cuộc thi ấm .

 

Từ Hán Đường

 

Nghệ nhân Từ Hán Đường sinh năm 1932 cũng trong một gia đình có truyền thống nghề thủ công, năm 1948 ông bắt đầu tham gia làm ấm tử sa. Trong những năm 1950 ông theo học nghệ nhân Cố Cảnh Chu, những tác phẩm của ông có hình dáng phong phú, điêu luyện về kỹ thuật và tinh xảo về đường nét. Ông cũng tham gia công tác nghiên cứu và viết sách, các cuốn sách ông đã cho ra đời như Nghệ thuật ấm tử sa truyền thống, Trà và ấm, Hình dáng ấm trà truyền thống. Các tác phẩm của ông hiện đang được lưu giữ tại một số các bảo tàng rất nổi tiếng cả trong và ngoài nước như Bảo tàng Nam Kinh, Bảo tàng Lịch sử trung Quốc, Bảo tàng Trà cụ tại Hồng Kông, Bảo tàng Hoàng gia Bỉ và Bảo tàng Victory tại Anh .

Từ Hán Đường và một số dáng ấm tiêu biểu

Từ Hán Đường và một số dáng ấm tiêu biểu

 

 

Uông Dân Tiên

 

Nghệ nhân Uông Dân Tiên sinh năm 1943, năm 14 tuổi bà bắt đầu tham gia làm ấm tử sa và đến năm 17 tuổi bà đã nhận được sự dẫn dắt, dạy dỗ của nhiều nghệ nhân nổi tiếng. Sau hơn 10 năm làm ấm dưới sự dìu dắt của nhiều người thầy lớn bà đã đã đạt được những kinh nghiệm và hiểu biết sâu rộng về gốm sứ nói chung và tử sa nói riêng. Tính đến nay bà đã có hơn 100 tác phẩm đạt nhiều giải vàng tại các triển lãm gốm sứ nghệ thuật cả trong và ngoài nước, phần lớn các tác phẩm đó được sử dụng như lễ vật quốc gia tặng các chính khách nước ngoài và được lưu giữ tại nhiều bảo tàng lớn như Bảo tàng quốc gia Băc Kinh.

Uống Dân Tiên và một số dáng ấm tiêu biểu

Uống Dân Tiên và một số dáng ấm tiêu biểu

 

 

Bao Chí Cường

 

Bao Chí Cường sinh năm 1946 tại Nghi Hưng, năm 1959 ông bắt đầu học nghề gốm và dưới sự hướng dẫn của nghệ nhân Ngô Vân Căn ông học khắc trên chất liệu gốm. Năm 1965 ông được nghệ nhân Nhậm Hán Đình hướng dẫn , năm 1975 ông nghiên cứu tại Học viện Mỹ thuật trung ương Trung Quốc về nghệ thuật gốm sứ. Ông nổi tiếng với kỹ thuật kết hợp nghệ thuật hội hoạ, điêu khắc và thư pháp vào những chiếc ấm tử sa. Những tác phẩm của ông đã đạt rất nhiều giải vàng tại các triển lãm đồ thủ công gốm sứ cả trong và ngoài nước, và hiện các tác phẩm đó đang nằm trong các viện bảo tàng lớn như Bảo tàng Bắc Kinh, Bảo tàng Nam Kinh, Viện nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ Trung Quốc. Hiện ông đang nắm giữ vị trí Giám đốc nghệ thuật hiệp hội gốm tỉnh Giang Tô, Phó chủ tịch hiệp hội nghiên cứu Văn hoá và Nghệ thuật Nghi Hưng Trung Quốc và được công nhận là nghệ nhân cấp quốc gia

 

Bao Chí Cường và một số dáng ấm tiêu biểu

Bao Chí Cường và một số dáng ấm tiêu biểu

 

 

Đàm Tuyền Hải

 

Đàm Tuyền Hải sinh năm 1939 tại Giang Tô – Nghi Hưng, ông tốt nghiệp Học viện Nghệ thuật Trung ương khoa Thủ công mỹ nghệ năm 1976. Năm 2004 ông chính thức được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân cấp quốc gia. Các tác phẩm của ông cũng từng tham gia các cuộc thi, triển lãm quốc tế và dành được nhiều giải vàng như giải vàng năm 1984 tại Hội chợ Leipzig – Đức, giải nhất năm 1985 tại Triển lãm các sản phẩm mới tỉnh Giang Tô, năm 1989 tại Triển lãm hội hoạ và thư pháp tỉnh An Huy – Chiết Giang, v.v… Ông cũng từng nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng như Phó chụ tịch hội nghệ thuật gốm sứ Trung Quốc khoá VII, VIII, IX , Chủ tịch hội điêu khắc Hồng Kông – Trung Quốc

Đàm Tuyền Hải và một số dáng ấm tiêu biểu

Đàm Tuyền Hải và một số dáng ấm tiêu biểu

 

 

Lý Xương Hồng

 

Lý Xương Hồng sinh năm 1937 tại Nghi Hưng, năm 1955 ông bắt đầu học nghề gốm tử sa dưới sự chỉ dạy của cố nghệ nhân Cố Cảnh Chu. Các tác phẩm của ông cũng đã từng dành nhiều giải vàng tại các triển lãm, hội trợ trong và ngoài nước. Bên cạnh đó ông cũng dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu và biên tập các tài liệu về nghệ thuật Tử sa. Chính nhờ những công hiến đó mà năm 1989 ông đã được Chính quyền tỉnh Giang Tô phong tặng nghệ nhân cấp cao, đến năm 2000 ông được Chính phủ Trung Quốc trao tặng danh hiệu nghệ nhân cấp quốc gia

 

Lý Xương Hồng và các dáng ấm tiêu biểu

Lý Xương Hồng và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Châu Quế Trân

 

Châu Quế Trân sinh năm 1943 tại Nghi Hưng, bà là nghệ nhân cấp cao và cũng là một học trò xuất sắc của nghệ sư Cố Cảnh Chu

 

Châu Quế Trân và các dáng ấm tiêu biểu

Châu Quế Trân và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Cố Thiệu Bồi

 

Cố Thiệu Bồi sinh năm 1945 trong gia đình có truyền thống về gốm sứ, năm 1958 ông bắt đầu vào trường học nghề Tử sa dưới sự giúp đỡ chỉ dạy của nghệ sư Cố Cảnh Chu. Các tác phẩm của ông đã từng dành đến 18 giải vàng cấp quốc gia và cấp tỉnh, năm 1989 ông từng là Phó chủ tịch hội gốm sứ tỉnh Giang Tô

 

Cố Thiệu Bồi và các dáng ấm tiêu biểu

Cố Thiệu Bồi và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Hà Đạo Hồng

 

Hà Đạo Hồng sinh năm 1943 tại Nghi Hưng là nghệ nhân cấp cao, năm 1958 ông bắt đầu tham làm ấm tử sa dưới sự chỉ dẫn của Bùi Thạch Dân. Từ năm 1975 đến 1980 ông nghiên cứu tại Học viện Mỹ thuật trung ương Trung Quốc, các tác phẩm của ông đã từng dành nhiều giải vàng tại các liên hoan triển lãm nghệ thuật và còn được lựa chọn sử dụng làm quà tặng quốc gia. Hơn 30 năm làm ấm ông đã tạo ra hơn 100 tác phẩm với nhiều hình dáng đặc sắc khác nhau, phần lớn chúng đều đang năm trong các viện bảo tàng lớn cả trong và ngoài nước. Bên cạnh đó ông cũng tham gia nghiên cứu và giảng dạy tại các viện và trường đại học lớn như Viện hàn lâm Mỹ thuật trung ương, Đại học Thanh Hoa .

 

Hà Đạo Hồng và các dáng ấm tiêu biểu

Hà Đạo Hồng và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Lưu Kiến Bình

 

Lưu Kiến Bình sinh năm 1957 là nghệ nhân cấp cao, năm 1976 ông bắt đầu học nghề Tử sa. Năm 1983 ông tốt nghiệp Học viện nghệ thuật Nam Kinh, năm 1989 ông tốt nghiệp Học viện mỹ thuật Trung ương. Các tác phẩm của ông cũng từng tham gia và dành nhiểu giải vàng tại các hội trợ, triển lãm trong và ngoài nước

Lưu Kiến Bình và các dáng ấm tiêu biểu

Lưu Kiến Bình và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Thẩm Cừ Hoa

 

Năm 1955 Thẩm Cừ Hoa bắt đầu ra nhập làng Tử sa dưới sự hướng dẫn của Cố Cảnh Chu, năm 1958 bà tham gia giảng dạy và nghiên cứu về đất Tử sa. Từ năm 1979 – 1982 bà tham gia Hội liên hiệp phụ nữ Trung Hoa và được hội trao tặng giải bàn tay vàng trong cuộc thi trào mừng thành lập hội. Năm 1989 bà đã đạt danh hiệu công nghệ mỹ thuật cấp cao, năm 1999 bà được tỉnh Giang Tô trao tặng danh hiệu công nghệ mỹ thuật sư và đến năm 2007 bà trở thành đại mỹ thuật công nghệ sư. Các tác phẩm của bà hiện đang lưu giữ tại rất nhiều các bảo tàng lớn cả trong và ngoài nước, bà từng kết hợp với Lý Xương Hồng cùng thực hiện tác phẩm “Trà Trúc” và đạt giải vang tại triển lãm Leipzig .

 

Thẩm Cừ Hoa và các dáng ấm tiêu biểu

Thẩm Cừ Hoa và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Lời kết về các nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

 

Xuôi dòng phát triển theo thời gian tôi vừa điểm lại 12 gương mặt nghệ nhân tiêu biểu của nghệ thuật Tử sa trong thế kỷ XX, trên thực tế còn rất nhiều những tên tuổi khác mà trong các bài viết sau có dịp tôi sẽ đề cập tới. Đây là 12 gương mặt thường hay được nhớ đến không chỉ bởi những tác phẩm tuyệt tác họ đã tạo ra mà còn bởi những cống hiến cho ngành gốm sứ Trung Quốc nói chung. Họ đều là những con người rất tài năng, mỗi người đều có những nét riêng biệt và đặc sắc trong việc chế tác ấm tử sa. Hai cố nghệ sư Cố Cảnh Chu và Tưởng Dung được coi là những người tiên phong đặt nền móng cho phong cách chế tác ấm tử sa đương đại. Các tác phẩm của Cố Cảnh Chu có hình dáng kết cấu đơn giản vững chắc chủ yếu là hình khối tròn hoặc lập phương thiên về công năng sử dụng hàng ngày nhưng vẫn mang tính nghệ thuật cao. Trái lại các tác phẩm của Tưởng Dung lại rất hay sử dụng các chi tiết trang trí cầu kỳ bên ngoài thân ấm, trên nắp ấm mang màu sắc thiên nhiên vì được cách điệu từ cỏ cây hoa lá chim thú. Sự ảnh hưởng này được thể hiện rất rõ trên các tác phẩm của lớp nghệ nhân là học trò của hai ông/bà sau này. Uông Dân Tiên cũng là nghệ nhân hay sử dụng các chi tiết trang trí bên ngoài thân ấm, Bao Chí Cường lại thích sử dụng thư pháp và hội hoạ để khắc lên thân ấm. Lý Xương Hồng và Châu Quế Trân luôn thích lấy cảm hứng từ những dáng ấm truyền thống rồi cách điệu một vài chi tiết như vòi, quai, nắp ấm. Trong khi Thẩm Cừ Hoa lại hay sử dụng phương pháp cách điệu các chi tiết trên ấm với hình dáng của những con thú. Nghệ nhân họ Hà nổi tiếng với những chiếc ấm có vòi và quai rất đặc biệt không thể lẫn với ai, kỹ thuật đó ảnh hưởng tới cả con gái ông sau này là Hà Yến Bình .

 

Nguồn : facebook Yixing Hu Tea

Tổng hợp : Trà Thuần Việt

 

Tổng quan các loại Đất Tử Sa

Tổng quan các loại Đất Tử Sa

” Trên thực tế có rất nhiều loại đất tử sa với những tên gọi khác nhau được sử dụng để làm ấm, cách đặt tên đất cũng có nhiều kiểu nhưng chủ yếu thường được đặt theo sắc độ (màu sắc) của đất … “

Tổng quan các loại Đất Tử Sa

Tổng quan các loại Đất Tử Sa

Các loại đất thường hay được sử dụng trong sản xuất ấm tử sa

 

Thuật ngữ Đất sét (clay) chắc hẳn không xa lạ với chúng ta, nó được dùng để miêu tả một loại đất rất giàu khoáng chất với thành phần chính là oxit và silic. Nghi Hưng (Yee zhing) thuộc tỉnh Giang Tô (Jiangsu) của Trung Quốc không phải là nơi khởi nguồn của đất sét nhưng ở đây lại có một loại đất sét rất đặc biệt và nổi tiếng mà ta vẫn hay gọi là đất Tử sa (Zhisa). Nghi Hưng cũng một là cái nôi tạo ra những chiếc ấm tử sa tốt nhất và đẹp nhất. Đất sét Nghi Hưng có rất nhiều loại khác nhau, tuy nhiên ta có thể chia thành 2 nhóm lớn sau:
• Đất sét thường (Earth Clay): là loại đất được sử dụng một cách phổ biến để tạo ra các sản phẩm gốm thông dụng trong đó có ấm trà (loại đất này ở các làng gốm của Việt Nam cũng có, tuy có thể khác một chút về thành phần cấu tạo)
• Đất sét đá (Stone Clay): loại đất mà ta vẫn thường gọi là đất Tử sa (Zhisa, Zini hay Purple Clay) và là loại đất đặc biệt chỉ ở vùng Nghi Hưng mới có và được dùng để sản xuất Ấm Tử Sa .
Tử sa là thuật ngữ dùng để miêu tả loại đất sét có sắc độ tím (purple), và ngoài ra ở Nghi Hưng còn rất nhiều loại đất có sắc độ khác nhau như: đỏ (zhu ni, hong ni), xanh lục (lu ni), vàng (duan ni), v.v… Tuy nhiên trên thực tế Tử sa đã trở thành một thuật ngữ chung để chỉ loại đất sét có xuất xứ từ Nghi Hưng
Như đã biết, đất sét Nghi Hưng (Stone Clay) là loại đất có cấu trúc và thành phần cấu tạo gồm oxit sắt, silic, mica, kaolinite cùng nhiều khoáng chất khác trong đó oxit sắt là thành phần chủ yếu. Chính nhờ thành phần cấu tạo đặc biệt này mà những chiếc ấm trà từ Nghi Hưng luôn có những ưu điểm rất tuyệt vời như: chịu được nhiệt rất cao (>1000C), giữ được trọn vẹn hương vị của trà, dù trà để rất lâu trong ấm sau khi đã sử dụng xong nhưng vẫn ko bị mốc hoặc thiu, v.v…

 

phân biệt đất làm tử đá hay bùn

phân biệt đất làm tử đá hay bùn

 

Chất lượng đất tử sa ở Nghi Hưng (Stone Clay)

 

Về cơ bản chất lượng đất sét sử dụng để làm ấm được chia thành 3 loại như sau:
• Đất sét nguyên khoáng (Original, Natural): đây là loại đất tự nhiên được khai thác trực tiếp từ các mỏ núi đá ở Nghi Hưng và là loại đất có chất lượng tốt nhất để làm ấm. Nhưng do khai thác quá nhiều nên hiện nay số lượng đất nguyên khoáng còn lại không nhiều và ngày càng trở nên khan hiếm
• Đất phối (Mixed): đây là loại đất được tạo ra bằng cách phối đất nguyên khoáng với nhau, hoặc phối đất nguyên khoáng với một vài nguyên liệu tự nhiên khác (nguyên liệu tự nhiên chủ yếu được sử dụng để phối là cát vì nó có tính chất và thành phần cấu tạo tương đương). Đất phối được tạo ra với mục đích chính là tận dụng đất nguyên khoáng vì như trên đã nói đất nguyên khoáng ngày càng hiếm
• Đất nhân tạo (Artificial): đây là loại đất được tạo ra bằng cách phối thêm một số thành phần hoá học khác vào đất (có thể là đất sét hoặc đất bùn) để tạo ra một chất liệu mới, hiện nay loại đất này được sử dụng rất nhiều để tạo ra những chiếc ấm mới với màu sắc đa dạng và bắt mắt nhưng chất lượng đất thì không thể tốt được bằng đất nguyên khoáng

 

các loại đất đang được sử dụng để làm ấm ở Nghi hưng

Các loại đất tử sa ở Nghi hưng

 

 

Các loại đất tử sa nguyên khoáng cơ bản quen thuộc thường được sử dụng để tạo nên ấm trà

 

 

5 loại đất tử sa nguyên khoáng

5 loại đất tử sa nguyên khoáng

 

Trên thực tế có rất nhiều loại đất với những tên gọi khác nhau được sử dụng để làm ấm, cách đặt tên đất cũng có nhiều kiểu nhưng chủ yếu thường được đặt theo sắc độ (màu sắc) của đất. Trong phạm vi phần này tôi sẽ chỉ đề cập tới những loại đất nguyên khoáng cơ bản mà các nghệ nhân làm ấm thường hay sử dụng. Và cũng chính từ những mẫu đất cơ bản này mà người nghệ nhân có thể sáng tạo bằng cách phối hoặc tạo ra các chất liệu đất khác nhau.
Chắc chắn rồi đầu tiên phải kể tới là đất Tử sa (Zi ni) có màu chủ yếu là nâu tím hoặc tím đen. Tiếp đến là đất Hồng sa (Hong ni) có thành phần cấu tạo nguyên khoáng gần giống Tử sa nhưng lại có màu đỏ nhạt. Lục sa nguyên khoáng (Lu ni) có màu xanh lá nhạt, đây là loại đất khá hiếm trong tự nhiên và có kết cấu không được bền nên thường được phối với Tử sa hoặc một vài nguyên liệu khác để tạo thành ấm. Đoàn sa (Duan ni) là loại đất có hàm lượng thạch anh và khoáng chất cao hơn cả, nó có màu chủ yếu là màu vàng. Cuối cùng là loại đất thích hợp để làm các dáng ấm nhỏ hoặc vừa phải mà người chơi ấm thường rất thích sưu tầm, đó là đất Chu sa (Zhu ni). Loại đất này có màu đỏ bóng và cũng là loại đất hiếm được chiết xuất từ sâu trong tĩnh mạch đá. Tuy nhiên sắc độ màu của đất còn phụ thuộc vào cả nhiệt độ khi nung ấm, nung ấm ở nhiệt cao màu sắc sẽ khác khi nung ở nhiệt độ thấp.
Như vậy trong ba bài viết trên tôi đã cố gắng tóm lược và đưa ra những nét tổng quan về loại đất sét được dùng để làm ấm. Tuy nhiên thực tế vẫn còn rất nhiều loại đất sét khác mà trong khuôn khổ bài viết này tôi chưa đề cập tới. Phần tiếp theo tôi sẽ nói rõ hơn về từng loại đất nguyên khoáng được sử dụng.

 

Đất tử sa (Zi ni)

 

 

đất tử sa

Đất tử sa

 

Như các bạn đã biết đối với đất nguyên khoáng cách đặt tên thường dựa trên màu sắc của đất, tuy nhiên trong thực tế màu sắc của đất rất đa dạng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: nguồn gốc đất được khai thác (địa tầng, đất vỉa ngoài, hay đất lõi), nhiệt độ nung hoặc cũng có thể do nghệ nhân làm phối thêm các thành tố khác v.v… Đất tử sa là loại đất được sử dụng phổ biến nhất, nhiệt độ chịu nung của nó khoảng 1180°C và độ co ngót so với ban đầu khoảng 10% – 11%. Về màu sắc nhiều tài liệu mô tả đất tử sa có màu tím gọi là cát tím (purple sand) nhưng thực tế đất tử sa có màu nâu tím (purple-brownish) hoặc màu nâu (brown) nhiều hơn.

 

Đất hồng sa (Hong ni)

 

 

Đất hồng sa

Đất hồng sa

 

Đất Hồng sa có nhiệt độ chịu nung khoảng 1100°C và độ co ngót so với ban đầu khoảng 14%. Về màu sắc đất Hồng sa có màu đỏ-cam là chủ yếu, và vì Hồng sa nguyên khoáng gốc là tử sa nên nó có cả màu đỏ-nâu. Đặc biệt đất hồng sa cũ (đất già, đã được khai thác lâu) có màu đỏ sậm nhưng bây giờ loại này rất hiếm

 

Đất lục sa (Lu ni)

 

 

Đất lục sa

Đất lục sa

 

Đất Lục sa nguyên khoáng được mô tả là có các chấm màu xanh nhạt (light-green) và là loại đất hiếm trong tự nhiên, nhiệt độ chịu nung của nó khoảng 1160°C và độ co ngót so với ban đầu khoảng 14%. Cũng do Lục sa là đất hiếm và kết cấu màu sắc không bền nên đất Lục sa thường hay được phối với các loại đất khác hoặc các nguyên liệu khác khi làm ấm.

 

Đất đoàn sa (Duan ni)

 

 

Đất đoàn sa

Đất đoàn sa

 

Đất Đoàn sa nguyên khoáng được mô tả có màu vàng là chủ yếu (yellow) ngoài ra còn có màu be (beige) hoặc vàng be và cũng là loại đất hiếm trong tự nhiên, nhiệt độ chịu nung của nó khoảng từ 1175°C – 1180°C, độ co ngót so với ban đầu khoảng 12% .

 

Đất chu sa (Zhu ni)

 

Đất chu sa

Đất chu sa

 

Không biết các bạn thế nào chứ với tôi Chu sa nguyên khoáng là loại đất tôi yêu thích nhất, tôi thích cái màu đỏ có vẻ thô nháp nhưng lại bóng bẩy của nó . Trong tự nhiên Chu sa là loại đất có nhiệt độ chịu nung cao nhất khoảng 1700°C và độ co ngót so với ban đầu khoảng từ 18% – 25%. Với tình trạng đất ngày càng khan hiếm như hiện nay thì việc sở hữu được 1 chiếc ấm đất Chu già quả thực là khá khó. Chính vì lẽ đó để đáp ứng nhu cầu người chơi, ngày nay người ta rất hay dùng hoá chất hoặc nguyên liệu khác để phỏng lại màu đất Chu sa.

 

Ở trên là các loại đất chính nhưng hiện nay do sự phối trộn rất nhiều các loại đất lại với nhau tạo thành các màu đất đẹp hơn,lạ hơn. Dưới đây là liệt kê sơ bộ  các loại đất có thể dùng làm ấm, bao gồm 5 loại đất chính đã giới thiệu phía trên.

25 loại đất cơ bản dùng sản xuất Ấm Tử Sa

 

1. Kim quế sa
2. Nguyên khoáng đế tào thanh
3. Nguyên khoáng tử nê
4. Hồng bì long
5. Nguyên khoáng đoàn nê
6. Thiên thanh nê
7. Nguyên khoáng giáng ba nê
8. Nguyên khoáng chu nê
9. Nguyên khoáng thanh thuỷ nê
10. Bổn sơn lục nê
11. Nguyên khoáng hồng nê
12. Thanh khôi nê
13. Nguyên khoáng hắc tinh thổ
14. Nguyên khoáng tử gia nê
15. Cổ đồng nê
16. Hoàng kim đoàn
17. Chi ma đoàn
18. Lão đoàn nê
19. Nguyên khoáng hắc nê
20. Đại hồng bào
21. Nguyên khoáng lục nê
22. Hắc tật tinh
23. Tiểu môi diêu chu nê
24. Nguyên khoáng mặc lục nê
25. Hắc chi ma tử nê

Tuỳ theo trình độ tay nghề, bí quyết pha chế đất,… các nghệ nhân sẽ dùng đất nguyên khoáng hoặc pha trộn hai hay nhiều loại đất lại với nhau tạo thành hàng ngàn loại đất có thành phần khác nhau để phục vụ cho nhu cầu chế tác của họ

Tuy nhiên cần lưu ý rằng các loại đất này có màu nguyên thuỷ là sậm, tối hoặc sáng nhạt nên trên lý thuyết nếu họ pha trộn lại với nhau thì các sản phẩm đất họ tạo ra cũng không thể sáng, bỏng bẩy được. Vì vậy các nghệ nhân có thể pha thêm các thành phần khác vào đất tạo các sản phẩm có màu độc đáo hơn và đó là bí quyết riêng của họ

 

Nguồn : facebook Yixing Hu Tea và tổng hợp lại từ các tư liệu khác .

Tổng hợp : Trà Thuần Việt

 

Ấm Tử Sa nghệ nhân tăng giá, xuất hiện hàng giả

Ấm Tử Sa nghệ nhân tăng giá, xuất hiện hàng giả

” Hiện nay trên thị trường Ấm Tử Sa đang rất sôi động, đủ loại kiểu dáng,màu đất được đóng triện của nhiều nghệ nhân khác nhau trong đó có những nghệ nhân cấp quốc gia … “

Ấm Tử Sa nghệ nhân tăng giá, xuất hiện hàng giả

Ấm Tử Sa nghệ nhân tăng giá, xuất hiện hàng giả

Hiện nay trên thị trường Ấm Tử Sa đang rất sôi động, đủ loại kiểu dáng,màu đất được đóng triện của nhiều nghệ nhân khác nhau trong đó có những nghệ nhân cấp quốc gia cực kỳ nổi tiếng nhưng được bán với giá rất hợp ví . Vậy đâu là sự thật của việc này hãy cùng tham khảo một bài viết điều tra về Ấm Tử Sa của các nghệ nhân nổi tiếng ở Nghi Hưng – Trung Quốc .

Bài phóng sự điều tra về chiếc Ấm Tử Sa dáng Thấu Tuyền của nghệ nhân Mao Quốc Cường mời các bạn theo dõi :

 “Tôi thấy cái ấm Thấu Tuyền này trên báo, tôi đã gặp mười mấy cái trên mạng TaoBao và tại một số cửa hàng, giá bán rất khác nhau. Lẽ nào nghệ nhân Mao Quốc Cường có thể chế tác ra nhiều loại ấm Thấu Tuyền như thế này sao? Tất cả những ấm này đều là thật à?”

 

Ấm Tử Sa Thấu Tuyền trên trang web taobao

Ấm Tử Sa Thấu Tuyền trên trang web taobao

 

Đó là thắc mắc của một người đang tìm mua Ấm Tử Sa Thấu Tuyền của nghệ nhân Mao Quốc Cường .Rút cục sự tình ra sao, phóng viên cũng tiến hành tìm hiểu.

Mấy chục ấm tử sa Thấu Tuyền, trong đó có ấm giả

  Ngày 15/5, phóng viên nhập 6 ký tự trên mạng Tao Bao “Ấm Thấu Tuyền Mao Quốc Cường”, kết quả tìm kiếm được 3 cửa hàng có bán ấm Thấu Tuyền này, giá bán khoảng trên 50.000 NDT

Phóng viên cũng nhập những ký tự như vậy trên mạng Baidu, trang đầu tiên hiển thị cửa hàng ẤmTử Sa cũng đang bán loại ấm này nhưng không có giá niêm yết cụ thể.

 Trong vai người mua ấm, phóng viên đi hỏi giá một cửa hàng có bán loại ấm này trên mạng TaoBao, chủ cửa hàng nói: “Một nghệ nhân tài giỏi thường cả cuộc đời sẽ làm được 20 đến 30 chiếc ấm Tử Sa vì thế trên thị trường sẽ có nhiều ấm Tử Sa giống nhau”

 Nếu dựa vào sự giải thích như vậy,  Lưu Binh thấy rất nhiều ấm Thấu Tuyền Mao Quốc Cường là chuyện bình thường, sự thực có như vậy hay không?

 Để có lời giải thích chính xác nhất cho vấn đề này .Phóng viên liên lạc với người làm ra chiếc ấm Thấu Tuyền này, nghệ nhân mỹ thuật công nghệ cấp quốc gia Mao Quốc Cường ở vùng Nghi Hưng

 Nghệ nhân Mao Quốc Cường nói với phóng viên, ấm Thấu Tuyền mặc dù không phải là chỉ có một kiểu dáng, một cái duy nhất, nhưng số lượng làm ra rất ít. Nhưng hiện tại có tổng cộng bao nhiêu cái ông không tiết lộ

Hội trưởng hiệp hội Tử Sa đồ sứ Tân Cương Lỗ Kiến Huy nói với phóng viên, theo như ông được biết về nghệ nhân ấm, khi nghệ nhân chế tác chiếc ấm Tử Sa, để đảm bảo tỷ lệ thành công, không phải là một chiếc lò chỉ nung một cái ấm, mà có rất nhiều ấm tử sa giống nhau cùng được đặt trong một lò, đợi sau khi hoàn tất việc chế tác, ấm nung thành công không bị lỗi cũng không vượt quá 3 đến 5 cái. Trên thị trường xuất hiện mấy chục ấm Thấu Tuyền của Mao Quốc Cường thì chứng tỏ được rằng có đồ giả .

 Còn về việc Lưu Binh có gặp ấm Thấu Tuyền giả hay không, Mao Quốc Cường nói” Chưa nhìn thấy vật thật, không thể kết luận được. “Những nghệ nhân mỹ thuật công nghệ nổi tiếng tỉnh Giang Tô Cát Quân lại thẳng thắn bộc bạch: Một nghệ nhân giỏi thông thường chỉ có thể làm được 5-6 ấm cùng loại, đã là nghệ nhân giỏi thì không làm ra số lượng nhiều như người công nhân bình thường.

 Về các ấm tử sa nghệ nhân giả, Tô Cát Quân không lấy gì làm ngạc nhiên. Sau  năm 2000, ông đã thiết kế ấm Hán Phong 6 góc, do các đệ tử chế tác, số lượng sản xuất khoảng 200 cái. Nhưng về sau ông mới hiểu được tình hình, trên thị trường có cả nghìn chiếc ấm như vậy

 Ông tiết lộ, nghệ nhân ấm Tử Sa hầu hết thời gian đều dùng vào việc dạy học, nghiên cứu thiết kế, hàng năm chỉ sản xuất được khoảng 20-30 ấm Tử Sa, tính bình quân mỗi tháng được khoảng 2 chiếc cũng là khá tốt rồi.Vậy nên trên thị trường xuất hiện hàng loạt ấm nghệ nhân giả, cái nào thật cái nào giả cũng chẳng thể nào xác định được

 

Ấm nghệ nhân tăng giá, xuất hiện hàng giả     

 

Trên thị trường xuất hiện hiện tượng ấm nghệ nhân thật giả lẫn lộn có mối liên hệ mật thiết với tình hình đấu giá ấm tử sa công khai, theo ông Lư Kiến Quân, những năm gần đây, giá của ấm nghệ nhân tăng vọt lên là điều ai cũng thấy, điều này giúp cho ấm nghệ nhân với số lượng ít ỏi được phủ lên mình lớp áo choàng thật giả khó mà nhận biết được .

 Trong đợt bán đấu giá Xuân 2010 tại Gia Đức Trung Quốc, chiếc ấm bầu đá do nghệ nhân chế tác được giao dịch với giá 12.320.000 NDT, phá vỡ kỷ lục của ấm Tử Sa Nghi Hưng

 Trong đợt bán đấu giá năm 2013, ấm Tử Sa lại trở thành điểm nóng tranh luận: Trong phiên giao dịch đêm đồ cổ Trung Quốc đợt đấu giá xuân lần thứ 8 Bảo Lợi, chiếc ấm bầu đá Hàn Đinh giao dịch với giá 14.950.000 NDT đã để cho ấm Tử Sa giành chiến thắng trong việc thu hút sự quan tâm của các nhà sưu tầm, điều này cũng thay đổi tình hình của ấm Tử Sa năm 2014.

 Ông Lư Kiến Quân cho hay năm ngoái một ấm Tử Sa do thợ trong xưởng có giá khoảng 350 NDT, hiện tại bán giá 400 NDT là chuyện bình thường, năm ngoái ẤmTử Sa nghệ nhân cấp thấp có giá khoảng 4000 NDT, theo như giá thị trường hiện nay là khoảng 5000 NDT, tăng khoảng 25%  , nếu nói dựa theo tình hình năm ngoái ấm nghệ nhân cấp quốc gia khoảng 100.000 NDT năm nay có thể được bán với giá 130.000-150.000 NDT, tăng khoảng 30-50%. Nếu hình dáng ấm độc đáo, một chiếc ấm tử sa có giá 200.000 NDT cũng không phải là cao.

 Từ đó không khó để thấy rằng, mỗi chiếc ấm Tử Sa đang ngày càng tăng giá, nhưng thu được lợi ích nhiều nhất trong tình hình này là ấm tử sa của các nghệ nhân chế tác.

 Ấm nghệ nhân được lợi nhất trong việc tăng giá này có quan hệ nhất định với số lượng các nghệ nhân. Ở Nghi Hưng Giang Tô, có mấy vạn nghệ nhân chế tác ấm Tử Sa, Hà Nam, Tứ Xuyên, Chiết Giang…cũng có người tham gia vào việc chế tác ấm Tử Sa, nhưng với những nghệ nhân mỹ thuật công nghệ cấp quốc gia cả nước cũng chưa đến 60 người.

 Nghệ nhân” ít mà quý”, vị thế của ấm nghệ nhân được nâng lên cũng là điều hiển nhiên, trong bối cảnh như vậy, làm giả ấm nghệ nhân chính là ý đồ mưu lợi của những người buôn bán ấm tử sa ở Trung Quốc .

Ông Lư Kiến Quân nói, hai năm trở lại đây, những chiếc ấm nghệ nhân giả qua tay ông giám định cũng có đến 6,7 cái, giá mua của nó chủ yếu là 10-20.000 NDT. Nhưng với những trường hợp thông thường, giá bán ấm tử sa nghệ nhân thật thường trên 50.000 NDT.
 

Nam Khánh (Dịch từ Mạng văn vật Trung Quốc)

Chỉnh sửa : Trà Thuần Việt – trathuanviet.com

Danh Trà Trung Hoa – Trà Xanh

Danh Trà Trung Hoa – Trà Xanh

 

Trung Quốc tính cả Đài Loan nữa thì có 16 tỉnh thành khu vực sản xuất trà. Từ hái trà lấy lá trà non nấu trà thành nước trà, đến chế biến bánh trà rồi tới pha cả lá trà là một quá trình dài được người Trung Quốc nghiên cứu vể trà, hoặc là vô tình đạt được hoặc là cố ý thay đổi, không ngừng phát hiện và đổi mới phương thức chế biến trà và công nghệ chế biến, cũng vì thế mà cho ra ngày càng nhiều mặt hàng hơn. Do phương pháp chế biến trà khác nhau nên mọi người thường phân chia trà Trung Quốc thành sáu loại lớn là: Trà xanh, Hồng trà, Trà ô Long, Bạch trà, Hoàng trà và Hắc trà, ngoài ra còn có trà hoa, khẩn áp trà (trà nén). Mỗi một loại đểu có danh trà làm đại diện, mỗi một danh trà đều có hương, vị, sắc, hình không thể thay thế. Hương, vị, sắc, hình đều đầy đủ thì là danh trà, phẩn lớn là sản phẩm có điều kiện tự nhiên tốt, giống cây trà ưu việt, phương pháp hái trà tinh tế và phương pháp gia công tinh xảo kết hợp lại.

TRÀ XANH

Trà xanh là loại trà cổ xưa nhất Trung Quốc, cũng là trà có sản lượng lớn nhất ở Trung Quốc, rất nhiều tỉnh đều nổi tiếng vì sản xuất trà xanh, trong đó nổi bật nhất là ba tỉnh Chiết Giang, Giang Tây, An Huy. Trà xanh là lá trà không lên men, có thể giữ được vị nguyên chất của trà ở hương vị thanh tao, đọng lại lâu dài khi uống thường có cảm giác thanh đạm, uống từng ngụm mới cảm thấy miệng thơm mát khiến người ta uổng một lần nhớ mãi. Phương pháp chế tạo trà xanh chủ yểu là “hấp xanh”, “sao xanh” và “phơỉ xanh” dùng ba phương pháp là hấp, sao, phơi để bỏ đi thành phần nước trong lá trà để đổi lấy vị thơm. Khi pha trà xanh không được dùng nước sôi mà nước ở nhiệt độ 80 – 90°c là thích hợp nhất có thể cho một ít nước nóng vào ngâm một chút rồi đổ đầy nước, thời gian đạy nắp chừng một hai phút là đủ, nếu không sẽ ảnh hưởng tới cảm giác của trà khi uống, cũng có thể rót một cốc nước sôi sau đó cho lá trà vào.

Tây Hồ Long Tỉnh

 

cận cảnh giếng rồng Long Tỉnh Giếng rồng  Long Tỉnh

 

Hàng Châu là một trong những thành phố đẹp nhất của Trung Quốc, từ thời cổ đại đã có danh hỉệu này. Tây Hồ là địa đỉểm đẹp nổi tiếng nhất của Hàng Châu, cũng là nguyên nhân quan trọng khiến Hàng Châu nổi danh bốn phương. Hàng Châu ba mặt là núi, từ thời nhà Đường, Thiên Trúc Tự và Linh Ẩn Tự gần Tây Hồ đã nổi tiếng vì sản xuất trà. Cái tên “Trà Long Tỉnh” bắt nguồn từ đời Tống, chủ yếu sản xuất từ năm địa điểm gần Tây Hồ, vớỉ các yếu tố、” sắc lục, hương nồng, vị ngọt, dáng đẹp”.

về Tây Hồ Long Tỉnh, có một truyền thuyết rất thú vị. Hoàng đế Càn Long đời Thanh (1736 -1795 tại vị) tới Giang Nam, đã từng tới khu vực Tây Hổ thưởng thức trà mới Long Tỉnh ở đây, thấy kĩ nghệ tuyệt vời của cô gái hái trà, Càn Long cũng không nén được mà học cách hái trà. Đúng lúc đó tùy tùng của Càn Long tới bên ông bẩm báo thái hậu bị bệnh, Càn Long tiện tay đút luôn trà vừa hái vào túi, rồi vội vã trở về Bắc Kinh. Thực ra bệnh của thái hậu không có gì đáng ngại, chỉ là ăn uống bị chướng bụng, tiêu hóa không tốt, thêm nữa là nhớ nhung con trai nên mới cảm thấy cơ thể không khỏe. Thấy con trai trở về rồi, bệnh của thái hậu cũng giảm đi một nửa, bà ngửi thấy trên người con trai có mùi thơm dịu nhẹ, liền hỏi là thứ gì, Càn Long liền lấy lá trà trong túi ra, và pha trà, mùi vị rất thơm, sau khi thái hậu uống vào thì bệnh hoàn toàn hồi phục. Càn Long rất vui mừng liền đặc biệt sắc phong cho 18 cây trà trước Long Tỉnh Tự ở Tây Hổ là “ngự trà”, Trà Long Tỉnh cũng từ đó mà nổi tiếng khắp nơi, trở thành loại trà ngon nổi tiếng Trung Quổc. Cũng bởi vì năm đó Càn Long mang lá trà về để trong tay áo nên bị ép thành hình phẳng, sau này Long Tỉnh Tây Hồ cũng bị chế tạo thành hình dáng đặc biệt. Năm 2005, Trung Quốc tổ chức hội đấu giá, “ngự trà” được đấu giá với giá khởi điểm là 80.000 nhân dân tệ cho 100 gam, sau cùng được bán với giá 145.600 nhân dân tệ cho 100 gam, còn quý hơn vàng.

 

vườn trà thông long tỉnh

 

Hái trà là công việc theo mùa, nông dân vùng trà nói “Háỉ sớm ba ngày là báu vật, hái muộn ba ngày biến thành cỏ”. Hái trà Long Tỉnh rất cầu kỳ. Thường là thời gian hái trà cả năm chỉ 190 đến 200 ngày, một cây trà một năm có thể hái 22 lần. Những ngày thời tiết nắng đẹp, sau khi hái lá trà xong chưa đầy ba ngày sẽ có mầm khác mọc lên, cho đến sau khi hái được tám, chín lần thì cây trà sẽ bước vào giai đoạn ngủ nghỉ. Đợi đến đầu hạ, sẽ bị đánh thức và mọc ngọn mới, có người gọi đó là “nhị trà”. Lá trà được hái thường là lá tươi không dài quá 2 cm, khi hái xuống chú ý không được háỉ lá rách, còn phải để lại lá sữa chưa mọc mầm. Người hái trà thường dùng haỉ tay, vừa hái vửa cho lá non vào trong giỏ.

Hái trà quyết định đẳng cấp của lá trà, trà Long Tỉnh chất lượng ngon nhất là “Minh tiền trà”, hái và gia công trước tiết thanh minh, sau tiết thanh minh, trước tiết Cốc vũ là “Vũ tiền trà” thì chất lượng kém hơn. Người ta dựa vào đặc điểm hình dạng của lá trà Long Tỉnh Tây Hồ để đặt tên cho nó: búp trà non được lựa chọn cấn thận tên là “Liên tâm”, một búp một lá gọi là “Kỳ thương”, một búp hai lá gọi là “Tước thiệt”. Sau khi pha trà, búp trà sẽ nở, đứng sừng sững như cây cờ, trên dưới lay động, sinh động, nước trà trong suổt, mùi vị thơm ngọt kéo dài.

Quá trình sao trà Long Tinh quyết định màu sắc, hình dạng và khẩu vị của nó. Trước đây sao trà thường dùng củi lửa hoặc than củi, cách canh lửa vô cùng quan trọng. Hiện nay, để tiện khống chế nhiệt độ người ta đã dùng chảo điện. Sao trà Long Tỉnh chia thành “thanh oa” và “huy oa”. “Thanh oa” tức là quá trình làm khô và tạo dáng bước đầu cho trà, mỗi chảo cho khoảng 120 gam lá tươi, nhiệt độ cao trước sau đó chỉnh nhiệt độ thấp, duy trì giữa 240 – 300°c, tay chủ yếu nắm và hất. Đợi lá búp mất một lượng nước nhất định thì tiến hành quá trình tạo hình bằng tay trộn, ép, hất, vung, lực ép từ nhẹ tới mạnh, đạt tới mục đích làm từ thẳng thành búp dài, ép dẹp thành hình. Sao khô khoảng bảy tám phần thì nhấc chảo lên, tổng cộng quá trình này mất khoảng 12 đến15 phút. Mục đích của “huy oa” là chỉnh hình thêm và sao khô, thông thường bốn phần lá trà ở giai đoạn “thanh oa” sẽ cho ra một phần lá ở giai đoạn “huy oa”, nhiệt độ khoảng 100°c, sao khoảng 20 – 25 phút, chủ yếu dùng tay nắm, xoa, ép, đảo, tay ép ngày càng mạnh. Sao trà là một việc vất vả, khi sao trà tay không được chạm xuống đáy chảo mà phải tiếp xúc với bề mặt của lá trà, nhiệt độ khoảng 60°c khi mới học sao trà thì tay bị bỏng là đỉều khó tránh khỏi, đợi khi sao đến một thời gian nhất định thì tay của người sao trà đã bị sưng phồng một lớp chai sạn dày cộm. Nghề sao trà thường là cha truyền con nối, kĩ thuật truyền từ đời này qua đời khác. Phương thức sao trà thay đổi theo từng loại trà, hàm lượng nước, nhiệt độ cao thấp của chảo về lực lớn nhỏ của tay, điều này cần phải động nãovà cần tích lũy kinh nghiệm không ngừng trong thực tiễn. Những người sao trà đời trước thường bắt đầu học từ năm mười mấy tuổi, bắt đầu là học từ cách nhóm lửa, trải qua hai mươi mấy năm cọ xát thì kĩ nghệ mới thành thục, có thể trở thành cao thủ sao trà xuất thần nhập hóa hay không còn phụ thuộc vào bẩm sinh và sự cần cù của mỗi người.

 

trà long tỉnh

 

Sao trà Long Tỉnh ở mỗi chảo với lượng ít, thời gian dài, một người sao trà giỏi thì mỗi ngày cũng chỉ sao được khoảng 1.000 gam trà khô. Hiện nay mặc dù đã phát minh ra phương pháp dùng cơ khí sao trà, nhưng trà khi sao xong dù bề ngoài màu sắc hay mùi vị đều không thể nào so được với vị ngon của trà sao bằng tay, do đó trà Long Tỉnh Tây Hồ thượng hạng đều được sao bằng tay.

Uống trà Long Tỉnh ngon nhất là dùng nước ở suối Hổ Bào ở Hàng Châu, nước suối này rỉ ra từ nham thạch, đá thạch anh, vị ngọt thanh, phân tử nước cao, mật độ phân bố rộng, hàm lượng canxicacbonat thấp. Dụng cụ pha trà thì dùng cốc thủy tinh trong suốt không hoa văn là tốt nhất, để tiện quan sát quá trình lá trà dãn nở trong nước. Tỉ lệ lá trà và nước khoảng 1:50, cho 1/4 nước vào cốc trà trước, sau đó cho lá trà vào ngâm ướt, để lá trà khô được dãn nở, đợi mùi thơm bắt đầu phát tán ra thì cho nước vào cốc, dùng sức mạnh của cổ tay để nhấc bình nước lên cao rổi đưa xuống tạo ra dòng nước khi rót, lặp lại động tác này 3 lần để lá trà chuyển động trong nước. Phương pháp pha trà “phượng hoàng gật đầu ba lần”  có thể khiến lá trà tiếp xúc hoàn toàn với nước,  ba lần gật đầu là hành lễ cúi chào với khách, với tư thế lịch sự thể hiện sự tôn trọng với khách và trà đạo. Trà Long Tỉnh có thể uống ba lần, vị của lần thứ hai là ngon nhất.

Hoàng Sơn Mao Phong

 

Trà Hoang Sơn Mao Phong

 

Hoàng Sơn thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc, từ xưa đã là một ngọn núi nổi tiếng, ở đó các đỉnh núi dày đặc, các đỉnh núi cao hơn mực nước biển 1.000 mét có đến 77 ngọn. Lịch sử sản xuất trà Hoàng Sơn có từ lâu đời, giữa thời nhà Minh đã rất nổi tiếng. Lúc đó, mọi người thích đến Hoàng Sơn ngắm kỳ quan biển mây độc đáo, khiến trà Hoàng Sơn được đặt tên  là “Hoàng Sơn Vân Vụ”. Trong trà Hoàng Sơn Mao Phong sắc màu xanh lục ánh màu vàng nhạt, lá thẳng, ngọn nhọn như đỉnh núi, vì thế mà có tên như vậy. Trong khu phong cảnh Hoàng Sơn cao 700 – 800 mét so với mực nước biển có đỉnh Đào Hoa, đỉnh Tử Vân, Vân Cốc Tự, Tùng Cốc Am, Điếu Kiều Am, Từ Quang Các, đều là khu sản xuất chính của trà Hoàng Sơn Mao Phong thượng hạng, với hình dạng giống lưỡi chim sẻ, sau khi pha nước thì nước trà trong veo, hơi ngả màu vàng nhạt vị tươi nồng, thuần hậu, pha năm sáu lần sau vẫn còn hương thơm. Dùng nước suối Hoàng Sơn pha trà Hoàng Sơn, nước trà để một đêm cũng không hề để lại vết tích trên cốc trà.

Bích La Xuân

Trà Bích La Xuân sinh trưởng ở núi Động Đình, huyện Ngô, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô, do đó còn có tên gọi “Động Đình Bích La Xuân” Nghĩa là :Mùi hương khiến người ta phải ngạc nhiên. Đặc điểm của Bích La Xuân là hương thơm nồng, do đó trong thời cổ đại bị dân chúng gọi là “Hách sát nhân hương” Hoàng đế Càn Long nhà Thanh khi tới Giang Nam, quan phủ ở đó dùng trà này đón tiếp Càn Long, Càn Long nâng cốc lên chưa uống nhưng đã ngửi thấy mùi thơm xộc vào mũi, uống một ngụm liền khen danh bất hư truyền, nhưng Càn Long chê tên trà không hay nên đổi thành “Bích La Xuân”  cho thơ mộng hơn. Trà Bích La Xuân có màu xanh lục, hình như con ốc biển, bốn phía có nhiều lông mao dày. Uống trà Bích La Xuân ngon nhất là dùng cốc thủy tinh, lá trà sau khi ngấm nước sẽ dần dần dãn nở, lúc nổi lúc chìm, lông trắng lộ ra giống như tuyết đang múa trong gió, vừa mang lại cho con người sự thưởng thức về xúc giác và vị giác, lại có cảm giác đẹp về mặt thị giác

Mông Đỉnh Cam Lộ

Khu vực Ba Thục (Tứ Xuyên) là nơi bắt đầu văn hóa trà Trung Quốc, rất nhiều loại trà ngon được sản xuất ở đây, trà Mông Đỉnh Cam Lộ chính là một trong số đó. Trà Mông Đỉnh Cam Lộ là một trong những loại trà nổi tiếng có lịch sử lâu đời nhất, từ đời Đường đã được coi là cống trà. Mông Sơn vắt qua hai huyện Nhã An, Danh Sơn của tỉnh Tử Xuyèn, năm đỉnh núi chụm lại với nhau như một đóa hoa sen, ở giữa là đỉnh núi cao nhất trên đỉnh núi có một miếng đấtt bằng, trà Mông Đỉnh Cam Lộ được trồng ở đó. Tương truyền thời Tây Hán (206TCN ) có một vị cao tăng là đại sư Cam Lộ, vì hạnh phúc của chúng sinh đã tự tay trồng cây trà trên đỉnh núi, cũng vì thế mà có tên là “Mông Đỉnh Cam Lộ”.

Vì có liên quan đến Phật giáo nên lai lịch của trà Mông Đỉnh Cam Lộ được coi là “tiên trà”.

Truyền thuyết kể rằng có một vị cao tăng bị ốm, trên đường đi gặp một vị sư già khuyên ông trước và sau tiết Xuân Phân, trong vòng ba ngày khi có sấm xuân thì hái nhiéu lá trà Mông Đình, ông ta nói hái được một lạng là có thể chữa được bệnh trên người ông. Vị cao tăng này làm theo như thế, khi hái được một lạng lá trà, bệnh trên người không chữa cũng khỏi, ngay cả dung mạo cũng trở nên trẻ hơn.

Vẻ ngoài của Mông Đỉnh Cam Lộ xoăn chặt nhiều lông, xanh non bóng bẩy, sau khi pha mùi thơm nồng, nước trà xanh trong, vị trà tươi mát ngọt hậu, nước trà thứ hai là ngon nhất .



Sưu tầm : Trà Thuần Việt