Danh mục các loại đất dùng sản xuất Ấm Tử Sa

Danh mục các loại đất dùng sản xuất Ấm Tử Sa

Chúng ta thường nghe rằng đất tử sa là ngũ sắc thổ nghĩa là có năm màu khác nhau nhưng thực tế không hề đơn giản như vậy. Ngày nay do công nghệ nung, phối màu giữa các loại đất với nhau …

Danh mục các loại đất dùng sản xuất Ấm Tử Sa

Danh mục các loại đất dùng sản xuất Ấm Tử Sa

Ấm Tử Sa một trà cụ quen thuộc với những người uống trà,.Ngày nay kinh tính giao thương phát triển ấm tử sa đã dần trở nên phổ biến với nhiều giá cả và phẩm cấp khác nhau tùy theo túi tiền của người mua. Tuy nhiên để chọn cho mình một chiếc ấm tử sa tốt mà vừa túi tiền cũng không phải là điều dễ dàng. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá tành của một chiếc ấm tử sa hay trà cụ bằng đất tử sa. Chúng ta có thể liệt kê ra đây một vài tiêu chí then chốt quyết định giá thành của một chiếc ấm tử sa đó là :

- Nguyên liệu dùng làm ấm tử sa : Chúng ta thường nghe rằng đất tử sa là ngũ sắc thổ nghĩa là có năm màu khác nhau nhưng thực tế không hề đơn giản như vậy. Ngày nay do công nghệ nung, phối màu giữa các loại đất với nhau hoặc có nhiều loại khoáng tử sa mới nên trên thị trường ấm cũng rất đa dạng về màu sắc chất liệu. Điều này làm những người mới chơi ấm rất khó phân biệt loại đất, loại nào tốt hay loại nào thuộc danh mục nào ….

 

 

mỏ đất tử sa

 

- Chế tác của một chiếc ấm tử sa : Đây chính là phần rất phức tạp và cũng nhiều hứng thú trong việc chọn ấm và mua ấm.  vì có rất nhiều tiêu chí đánh giá đâu là một chiếc ấm được chế tác tốt như vòi, nắp, hoa văn … đó là độ tinh xảo và thêm nữa là hình dáng kiểu dáng âm, tât nhiên đây cũng là phần liên quan đến gu thẩm mỹ của người chơi nên mỗi người sẽ chọn cho mình một dáng ấm yêu thích dựa trên những tiêu chí cụ thể của bản thân hay của loại trà mình đang dùng . Các bạn có thể đọc bài viết : Các dáng ấm tử sa phỏ biến để tìm hiểu thêm.

- Tác giả làm ấm tử sa : Tác giả làm ấm hay lò làm ấm là một yếu tố quyết định khá lớn trong giá thành của một chiếc ấm. Tuy nhiên với tôi thì yếu tố này nên được xem xét sau cùng nếu bạn chỉ là một người mua ấm về dùng pha trà chứ không phải dân sưu tập ấm. Một chiếc ấm có công năng tốt, chế tác tốt, nguyên liệu tốt nhưng giá thành bị đội lên do người làm ấm hay chính là tiền thương hiệu thì bạn nên suy nghĩ kỹ trước khi mua nếu không phải là người sưu tầm ấm.

- Các yếu tố khác quyết định giá thành một chiếc ấm tử sa : Có thể liệt kê ra như độ mới hay cũ của một chiếc ấm, ấm cũ thường có nguyên liệu tốt hơn và nếu chiếc ấm cũ được chủ nhân trước chăm sóc kỹ càng lên màu tốt thì hiển nhiên giá sẽ cao hơn một chiếc ấm mới. Ngoài ra nhiều chiếc ấm được khắc thư pháp, tranh .. nên việc người khắc là ai có khi chiếm đến một nửa giá thành của một chiệc ấm .

 

Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi sẽ cố gắng lập một danh mục các loại nguyên liệu dùng trong sản xuất ấm tử sa. Bài viết sẽ giới thiệu về từng loại đất, dòng đất, phân theo từng mục để dễ dàng tra cứu. Bài viết này chúng tôi dùng nhiều nguồn tài liệu tham khảo tiếng trung, tài liệu chia sẻ của các trà hữu và kinh nghiệm trong quá trình chơi và sưu tập ấm tử sa. Hy vọng sẽ trở thành nguồn tham khảo cho các bạn yêu trà mê ấm khi cần tra cứu về các loại đất hay khoáng tử sa .

 1. Tử Nê ( Tử Sa )

1.1 : Nguyên Khoáng Để Tào Thanh

 

ấm tử sa  đất để tào thanh

 

  • Giới thiệu:

Loại khoáng  này được khai thác ở dãy núi Hoàng Long Sơn thuộc Giang Tô Nghi Hưng Trung Quốc, nguyên khoáng này cơ bản có thể phân làm 3 loại gồm: Đầu Tào, Nhị Tào Thanh, Để Tào Thanh. Loại khoáng này được khai thác ở địa tầng sâu nhất, nên chất lượng tốt nhất. Hơn 100 năm qua loại khoáng  này luôn được các nghệ nhân làm gốm sứ ưa chuộng và đã có rất nhiều các sản phẩm gốm sứ kinh điển được làm ra từ loại khoáng này. Tên loại khoáng này, nó là phương ngôn đã được sử dụng từ rất lâu ở Nghi Hưng, vì sợ lẫn lộn nên họ đã lấy luôn tên “Để Tào Thanh”( Loại khoáng được khai thác ở địa tầng sâu nhất) làm tên gọi cho loại đất này. Loại khoáng này được khai thác đầu tiên ở mỏ số 4 ở Hoàng Long Sơn, về sau là ở mỏ số 5 và ở mỏ Đài Tây. Chính vì được khai thác ở địa tầng rất sâu nên nó rất tinh khiết và rất mịn, chất lượng cao. Trong những năm gần đây đã có rất nhiều nghệ nhân làm ấm Tử Sa dùng loại đất này.

Nung ở nhiệt độ khoảng 1180 độ C

Độ co ngót khoảng 12%

  • Nơi khai thác :

Trong những năm gần đây thì nó được khai thác chủ yếu ở mỏ số 4 ở Hoàng Long Sơn, vì sự cố sụt đất mà mỏ này phải tạm dừng, quặng khoáng này ngày càng ít, chỉ còn lại những mảng phong hóa ở sâu cho nên nó rất quý, ấm Tử Sa Nghi Hưng nổi tiếng khắp thế giới, và không thể không nói đến loại khoáng này.

  • Đặc điểm của loại khoáng này:

Trong các miếng quặng này có chứa màu xanh biếc của mắt chim,mắt mèo, pha chút tím và ánh xanh, mịn mà tinh khiết, rất hiếm. Khi nung lên nó chuyển thành màu đỏ gan lợn.

 

nguyên khoáng để tào thanh

 

  • Đặc tính khi pha trà bằng loại ấm làm từ quặng khoáng này:

Khi pha trà trong ấm bằng khoáng tử sa để tào thanh tạo cho chúng ta cảm giác du dương trầm bổng, dùng lâu ấm sẽ chuyển thành màu đậm hơn. ( Phần này là dịch nguyên từ tiếng trung sang, nghe hơi ảo )

 

1.2 : Nguyên Khoáng Tử Nê

 

nguyên liệu nguyên khoáng tử nê nguyên khoáng tử nê

 

Giới thiệu :

Tử Nê, là loại đất Tử Sa điển hình thường gặp nhất, nhưng loại tốt thì ít mà loai kém lại nhiều, nó có màu nâu tím, người chơi ấm thường gọi nó với cái tên “Hắc Tử Nê”, Đây là loại đất dễ kiếm nhất trên thị trường. Nó được thu từ tất cả các mỏ khai thác khoáng Tử Sa ở núi Hoàng Long Sơn-Giang Tô-Nghi Hưng, hàm lượng săt trong loại đất này rất cao nên nó sẽ tạo ra kết cấu các lỗ khí trên thân sản phẩm khi làm từ nguyên liệu này, nên không khí đối lưu qua các lỗ khí là rất tốt. Sử dụng lâu ngày, nó sẽ lộ ra những lỗ li ti và nó sẽ làm cho chiếc ấm có những thay đổi rất tốt, pha trà uống ngon hơn rất nhiều.

  • Nung ở nhiệt độ khoảng 1180độ C
  • Độ co ngót khoảng 11%

 

ấm trà tử sa nguyên khoáng tử nê ấm tử sa nguyên khoáng tử nê

 

Đặc tính của đất

Có tính ổn định cao, dễ tạo tác, độ bền cao, có thể làm được những loại tượng lớn, nó là loại nguyên liệu mà rất nhiều người thích dùng.

  • Độ khó: Dễ sinh ra quá trình oxy hóa sắt, nhiều cát và thậm chí là lẫn cả các loại hóa thạch khác.

Đặc điểm

Màu sắc ổn định, nhìn sang trọng, thành phẩm tương đối rẻ, càng dùng lâu màu sắc càng đẹp lôi cuốn lòng người.

 

1.3 : Nguyên Khoáng Thanh Thủy Nê 

 

 

nguyên khoáng thanh thủy nê

 

Giới thiệu:

Nguyên khoáng thanh thủy nê theo quan niệm của người xưa, ấm làm bằng chất liệu này sau khi dùng một thời gian rất dài thì hương vị lưu lại rất nồng nàn vì thế mà những người làm gốm sứ ngày xưa rất thích dùng loại đất này.Còn rất nhiều sản phẩm làm từ loại đất này còn lưu lại đến ngày nay. Cái tên Thanh Thủy Nê luôn được người làm và người dùng yêu thích. Loại đất này có đặc điểm là khô ẩm dễ tạo tác, tính ổn định cao, độ kết dính hợp lý. Thanh Thủy Nê là loại quặng tinh khiết, những người làm gốm sứ Nghi Hưng gọi nó là “Phổ Nê” vì nó là loại nguyên liệu dễ kiếm. Loại tốt thì hiếm và đắt, loại xấu thì nhiều mà lại rẻ. Những người chơi ấm thường gọi nó là “Hồng Tử Nê”

Nhiệt độ nung khoảng 1160 độ C

Độ co ngót khoảng 12%

Nơi khai thác: Núi Hoàng Long Sơn-Giang Tô-Nghi Hưng

Độ khó: Khi làm phải luyện lại đất, nếu không nó dễ chuyển thành màu đen, khi luyện phải lưu ý quá trình Oxy hóa sắt và phải loại bỏ đá vôi lẫn trong nó.

Đặc tính khi sử dụng: Ấm trà được làm bằng nguyên liệu nguyên khoáng thanh thủy nê sử dụng lâu ngày sẽ chuyển sang màu đỏ hồng.

 

ấm tử sa đất nguyên khoáng thanh thủy nê

 

 

1.4 : Ngọc Sa Liệu

 

Nguyên khoáng Ngọc Sa là một trong những loại nguyên khoáng Tử Sa có tính thoát khí rất mạnh, đặc điểm biểu hiện chủ yếu của nó là sau khi rót nước lên thân ấm thì nó sẽ bốc hơi khô ngay lập tức, khi rót nước sôi vào trong ấm chúng ta sẽ nhìn thấy khí nóng bốc lên rất mạnh.

Đặc điểm: Ấm trà làm từ nguyên khoáng Ngọc Sa nếu như sử dụng trong một khoảng thời gian dài sẽ dẫn đến bám cao trà, làm cho các lỗ thoát khí bị tắc, nên chúng ta phải nung lại nó trong lò có nhiệt độ cao và chiếc ấm lại trở lại như mới.

Nhiệt độ nung : 1180 độ C

Độ co rút : 11%

Nơi khai thác: Nghi Hưng-Trung Quốc

 

ấm tử sa ngọc sa liệu nguyên khoáng ngọc sa liệu

 

 1.5. Ngũ Sắc Thổ

Đất ngũ sắc dùng để làm tất cả các loại ấm Tử Sa, độ mịn của nó nằm trong khoảng giữa từ mục 8 đến mục 16 (Đây là thuật ngữ dùng phân loại độ mịn của đất Tử Sa, nghĩa là độ mịn của loại đất này nằm trong khoảng từ 1,18mm đến 1,40mm), việc tinh luyện nguyên khoáng này đều phải làm thủ công vì nó cũng giống như Tử ngọc Kim Sa là loại nguyên liệu rất thô, do quặng này chưa trải qua quá trình nung ở nhiệt độ cao nên chỉ có thể áp dụng các phương pháp tinh luyện thủ công mà thôi, nếu không thì nó rất dễ bị Oxy hóa và dễ vỡ, vì vậy để làm được những chiếc ấm Tử Sa ngũ sắc thì phải dùng những phương pháp đặc biệt trong quá trình chế tác.

Nhiệt độ nung: Khoảng 1160 độ C

Độ co ngót: Khoảng 12%
Nơi khai thác: Núi Hoàng Long Sơn-Giang Tô-Nghi Hưng
Đặc tính: Dễ vỡ, dễ bị Oxy hóa

 

1.6 : Tử Kim Sa

Tử Kim Sa thuộc loại quặng cộng sinh, nằm trong tầng giữa của Tử Nê, đây là loại nguyên liệu thuộc loại quý hiếm, nó được hình thành từ quá trình luyện nghuyên khoáng Tử Nê, loại nguyên nguyên liệu này tương đối xốp nên khi làm ấm từ loại nguyên liệu này chiếc ấm sẽ có độ đối lưu không khí hai chiều rất rốt. Dùng lâu ngày chiếc ấm sẽ càng lộ ra những nét tinh tế làm lôi cuốn lòng người.

Đặc tính của loại đất này là có tính ổn định cao, dễ làm

Độ nung khoảng 1180 độ C

Độ co ngót khoảng 11%

Nơi khai thác: Núi Hoàng Long Sơn-Giang Tô-Nghi Hưng

 

nguyên khoáng tử kim sa ấm tử kimn sa mới ấm trà tử sa chất liệu tử kim sa ấm tử sa chất liệu tử kim sa

1.7 : Tử Ngọc Kim Sa

 

Tử Ngọc Kim Sa thuộc mục 16 ( Tức độ mịn là 1,18mm), đây là nguyên khoáng Tử Sa được tinh chọn, nó được nung trong lò ở nhiệt độ khoảng 800 độ C để loại bỏ những tạp chất, sau đó nguyên khoáng này lại được tiếp tục tinh luyện. Loại khoáng này tương đối thô nên việc chế tác là tương đối khó, những hạt khoáng thô bắt buộc phải làm cho mịn, Vì đây là loại khoáng thô do đó khi mở nắp ấm ra ở phần miệng nó sẽ có hình răng cưa cao thấp không đều, nên việc làm nhẵn phần nắp ấm cho khít hoàn toàn cũng khó khăn hơn nhiều.

Nhiệt độ nung: Khoảng 1180 độ C

Độ co ngót: Khoảng 11%

Nơi khai thác: Núi Hoàng Long Sơn-Giang Tô-Nghi Hưng-Trung Quốc

Đặc tính: Là loại quặng tương đối thô, khó chế tác

Độ khó: Trong quá trình nung, thường hay nứt vỡ nên thành phẩm thường rất ít, thông thường một chiếc ấm thường trải qua từ 3 đến 5 lần nung và thường có 2 lần nung ở nhiệt độ khác nhau.

Đặc điểm: Do đặc thù của loại khoáng này, nên mọi chiếc ấm làm từ nó đều có độ thoát khí rất tốt, có đặc tính là thấm nước nhưng không rò rỉ, so với những loại khoáng khác thì độ thoát khí của nó là rất tốt.

 

ấm bó trúc đất tử ngọc kim sa ấm trà đất tử ngọc kim sa nguyên khoáng tử ngọc kim sa

 

2. Hồng Nê ( Hồng Sa )

2.1. Nguyên Khoáng Chu Nê

 

Bài viết vẫn đang được cập nhật

 

Biên soạn : Trà Thuần Việt

Người dịch : Tử Ca

 

·  

Tổng quan các loại trà ướp hoa truyền thống Việt Nam

Tổng quan các loại trà ướp hoa truyền thống Việt Nam

“Trà là một thức uống hàng ngày không thể thiếu trong mỗi gia đình Việt Nam, trà đi vào mọi ngóc nghách của cuộc sống người việt, gắn liền với mỗi con người Việt Nam từ khi mới ra đời cho đến khi về với đất mẹ. .. “

Tổng quan các loại trà ướp hoa truyền thống Việt Nam

Tổng quan các loại trà ướp hoa truyền thống Việt Nam

 

trà cổ thụ ướp hoa ( bạch ngọc trà )

 

Trà là một thức uống hàng ngày không thể thiếu trong mỗi gia đình Việt Nam, trà đi vào mọi ngóc nghách của cuộc sống người việt, gắn liền với mỗi con người Việt Nam từ khi mới ra đời cho đến khi về với đất mẹ. Khi mới ra đời những đứa trẻ được cha mẹ tắm cho bằng nước trà xanh, đến khi nhắm mắt xuôi tay lại được nằm trên một lớp trà.

Dân tộc ta tuy không có nền văn hóa trà có vẻ ngoài hào nhoáng như trà trung hoa, không câu nệ lễ tiết như trà đạo nhật bản. Nhưng chúng ta cũng có những nét riêng về văn hóa trà mà không có quốc gia nào có được. Một trong những nét độc đáo của văn hóa trà việt chính là trà ướp với hoa truyền thống .

Trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ đề cập tới văn hóa trà ướp hoa truyền thống dưới góc nhìn của một người làm trà đất hà thành, một góc nhìn có thể phiến diện mang tính chủ quan cá nhân, nhưng tôi nghĩ sẽ cung cấp đến cho quý vị yêu trà một chút kiến thức tổng quan đọc trong những khi rảnh rỗi bên chén trà thơm.

 

Sự ra đời của các loại trà ướp hoa truyền thống

 

thưởng thức trà sen

thưởng thức trà sen

Thật sự đến thời điểm này cũng chưa có một tài liệu nào cụ thể đề cập và nghiên cứu chính xác về văn hóa uống trà ướp hoa truyền thống. Cũng không có tư liệu nào khẳng định rằng các loại trà ướp với hoa là do người Việt sáng tạo ra. Một phần cũng do 1000 năm đô hộ của phương bắc, các tài liệu về văn hóa trà bị tận diệt dưới chính sách đồng hóa giờ cũng không còn. Nhưng với tính cách của dân tộc Việt lịch sử đã chứng minh rằng chúng ta chưa bao giờ bị đồng hóa về mặt văn hóa mà chúng ta thường biến những cái hay của văn hóa ngoại lại thành những giá trị mới,tạo thành cái riêng của chúng ta.

Vào thời kỳ phong kiến văn hóa trà của chúng ta tồn tại hai xu hướng chính : Người nghèo, người dân lao động thường uống trà tươi, nụ vối. Người giàu hay tầng lớp quan lại thường uống trà khô của tàu mang sang hoặc các loại trà cổ thụ trên mạn ngược.

Theo quan điểm cá nhân của tôi thì trà tàu khi mang sang việt nam thường phải trải qua một hành trình rất dài, giá trà khi đến tay người dùng cũng không hề rẻ nên bản thân những người có tiền mua trà tàu thì họ cũng phải sử dụng một cách dè sẻn,chỉ dùng cho bản thân hoặc khi có khách quý đến nhà.

Nhưng cũng vì thời gian vận chuyển và lưu trữ rất dài dẫn đến các loại trà bị mất đi mùi hương đặc trưng của trà, có thể do sự nuối tiếc trà quý mà một số người đã tìm cách ướp một loại hương của hoa vào trà đem lại một sức sống mới cho những loại trà cũ. Với cách nhìn này các bạn có thể thấy rằng hơi phiến diện, không thanh tao như nhiều người nghĩ về các loại trà ướp hương . Nhưng nếu am hiểu về cách làm trà sen truyền thống của người hà thành thì ta cũng thấy một điều trùng hợp, là loại trà dùng để ướp sen thường là trà mạn hà giang đóng thành bánh lớn để lâu năm cho trà hoai hết hương mới dùng để ướp. Tất nhiên đây là một nguyên lý rất đơn giản là hương tự nhiên của trà không còn thì khi kết hợp với hoa sẽ làm nổi mùi hương tự nhiên của hoa lên rất nhiều. Nhưng cái nguyên lý đơn giản này được phát hiện một cách tình cờ như tôi đã nói ở trên.

Dù khởi thủy sinh ra các loại trà ướp hương hoa tự nhiên ra sao thì hiện nay các loại trà ướp hương truyền thống đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền văn hóa trà của người Việt chúng ta.

 

Điểm qua các loại trà ướp hoa truyền thống Việt Nam

 

Trà ướp hoa nhài

 

Trà Ướp Hương Nhài

 

 

Trong các loại trà ướp với hoa tự nhiên thì Trà Nhài là một loại phổ biến nhất, không chỉ ở Việt Nam mà còn phổ biến ở rất nhiều quốc gia có nền văn hóa trà lâu đời khác nhưng cách ướp trà nhài của nước ta cũng có nhiều điểm khác biệt. Điểm khác biệt này đến từ cách uống trà và loại trà mà thị trường trong nước chúng ta đang được tiêu thụ lớn nhất là trà xanh hay lục trà hoặc là trà sao suốt không lên men. Vì thế nên hầu hết các loại trà ướp hương của chúng ta đều được sử dụng nguyên liệu chính là trà xanh.

Do dùng trà xanh để ướp hoa nên thành phẩm của trà nhài việt nam có vị chát nhẹ đặc trưng của trà xanh xen lẫn hương thơm nhẹ nhàng của hoa nhài. Ở các quốc gia khác nguyên liệu ướp trà nhài thường chủ yếu là các loại trà đã lên men theo nhiều mức độ có thể là trà ô long, nguyên liệu trà shan đã lên men nhẹ …

Trà ướp hoa sen

 

trà sen ướp xổi

trà sen ướp xổi

gạo sen

gạo sen

pha trà sen

pha trà sen

 

 

Trà sen nói chung hay Trà Sen Tây Hồ nói riêng là một sản phẩm trà truyền thống gần như chỉ có tại Việt Nam. Bản thân tôi đã từng cho các bạn Trung quốc chuyên kinh doanh trà xem ảnh quy trình ướp trà sen tây hồ  tươi và khô của chúng tôi thì họ cũng rất ngạc nhiên và chưa từng gặp sản phẩm trà tương tự ở nước họ.

Cụ thể hơn về trà sen của việt nam thì nguyên liệu chính hiện giờ được đa số người dùng yêu thích vẫn là trà xanh có thể là trà xanh thái nguyên hoặc trà xanh cổ thụ hay trà shan của các vùng núi phía bắc. Về xa xưa hơn thì nguyên liệu dùng ướp trà sen thường là trà shan đóng bánh để lâu năm cho hoai, lên men tự nhiên trong thời gian dài. Nhưng do loại trà này có nước đỏ, tuy hương sen rất thơm, vị trà khác biệt với gu uống trà xanh có vị chát nhẹ thông thường nên lâu dần loại trà này đã gần như bị mai một do thị hiếu người tiêu dùng.

Ngoài ra có một sản phẩm mới nhưng không mới là trà ướp trong bông sen còn tươi, sau đó lấy trà ra và uống tươi. Nói là mới nhưng không mới vì đã từ lâu rồi các cụ trong gia đình tôi tại một làng ven đô hà nội đã có thói quen uống trà sen tươi ướp ngay tại đầm. Cụ Lang nhà tôi thường mua những bông sen ướp sẵn với trà mạn với giá 2 hào tương đương với một bát phở thời bấy giờ của một người khác có đầm sen trong xóm. Nhưng thời ký bấy giờ phong trào uống trà sen tươi chưa được biết tới rộng rãi như bây giờ một phần là do cách bảo quản khó khăn phải dùng ngay khi làm xong. Hiện tại do có các công nghệ bảo quản lạnh hiện đại trà sen tươi được lưu trữ trong thời gian rất dài nên ngay cả khi mùa sen đã qua bạn vẫn có thể mua được trà sen tươi trên thị trường. Và yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự phổ biến của trà sen ướp tươi là giá thành chỉ từ 30 đến 50.000 VND, rất đại chúng ai cũng có thể mua được không như trà sen khô có thời điểm được bán tới 100$ 100g trà .

Trà ướp hoa ngâu

 

tra-uop-hoa-ngauCũng như hoa nhài, hoa ngâu là một loại hoa được trồng rất phổ biến trong vườn nhà của các gia đình việt nam. Là loại cây chịu được nắng nên cây ngâu thường được trồng làm cảnh,trồng tạo cảnh quan ở công viên,đường đi …

Hoa ngâu khi chín có màu vàng nhạt bé như trứng cá nở từng chùm cho hương thơm dịu nhẹ. Ngoài công dụng cho việc ướp trà thì hoa ngâu phơi khô cũng là loại thuốc quý rất tốt cho các bệnh về tim mạch và cao huyết áp.

Trà ướp hoa ngâu gần như chỉ phổ biến tại việt nam và không thấy tại các quốc gia khác. Trà ngâu cho hương thơm dịu khi kết hợp với trà đem lại cảm giác thư thái khi dùng. Trà và Hoa ngâu đều rất tốt cho việc giảm mỡ máu và cao huyết áp nên khi kết hợp lại thành một loại trà vừa có tính chất thưởng thức vừa có dược tính tốt cho sức khỏe .

Hiện nay trên thị trường trà ướp hoa ngâu khá khó kiếm do nguồn cung cấp hoa không có và hoa ngâu không được trồng đại trà như nhài và sen.

Trà ướp hoa bưởi

 


trà ướp hoa bưởi trà ướp hoa bưởi diễnhoa buoi uop tra

 

 

Cây bưởi là loại cây rất phổ biến và vùng trồng bưởi nổi tiếng nhất là vùng bưởi Diễn ở ngoại ô thành phố Hà Nội. Ngoại việc trồng lấy quả thì hoa bưởi được sử dụng ướp vào rất nhiều các món ăn truyền thống ở Hà Thành, ví dụ như mía ướp hoa bưởi, các loại chè có hương của hoa bưởi, bột sắn dây ướp hoa bửoi và trà mạn ướp hoa bưởi.

Hoa bưởi cho một hương thơm nồng nàn quyến rũ một thứ hương thơm đặc trưng của mùa xuân. Hiện tại Trà ướp hoa bưởi theo phương pháp cổ truyền tại Hà Nội khá khó kiếm do rất ít nơi làm, và vườn bưởi thường giữ hoa để lấy quả nên ít khi có hoa bưởi bán số lượng lớn để ướp trà.

Hoa bưởi tốt nhất dùng để ướp trà là hoa bưởi diễn cánh nhỏ nhưng thơm dịu, hoa có thể ướp với trà cổ thụ hoặc trà tân cương đều cho hương rất tốt.

Trà ướp hoa mộc

Trong các loại trà ướp hoa tự nhiên thì trà ướp hoa mộc là loại trà đắt đỏ chỉ đứng thứ 2 sau trà sen, vì hoa mộc là loại cây khá hiếm giá cây giống to khá cao, hoa nhỏ nên cần lượn hoa nhiều để ướp trà hơn các loại hoa khác.Một cây hoa mộc có gốc đơn to bằng bắp đùi người lớn có thể có giá lên đến vài chục triệu đồng. Ngoài ra hoa mộc có hương thơm nhẹ nên dùng để ướp hương vào trà cũng khá khó khăn, ít nơi có thể làm được.

Loại trà dùng để ướp với hoa mộc cũng khá kén chọn cũng bởi vì hoa mộc có mùi hương nhẹ rất đặc biệt nên nếu trà dùng ướp hương có mùi thơm nồng mạnh sẽ làm át đi hương của hoa mộc. Một mẻ trà ướp hoa mộc đạt khi uống phải có hương thơm nhẹ quấn trong khoang miệng mùi thơm gần như mùi hoa quả cứ quấn quýt mãi.

 

Trà ướp hoa sói

Trà ướp hoa sói là loại trà khá phổ biến ở việt nam, do đặc điểm khí hậu cần thiết để canh tác hoa sói là phải có bóng râm và độ ẩm cao, cây hoa sói cũng đòi hỏi được tưới nhiều lần trong ngày và thu hoạch từ sáng sớm khi hoa mới chín. Chính vì vậy trồng hoa sói để ướp trà đòi hỏi mực độ đầu tư và chăm sóc nhiều hơn cả trồng nhài.

Nơi trồng hoa sói và ướp trà hoa sói có sản lượng lớn nhất là vùng bảo lộc lâm đồng, nơi đây có điều kiện khí hậu mát mẻ và cũng là một vùng canh tác trà lớn của nước ta vì thế nên nghề trồng và ướp hoa sói ở đây rất phát triển.

Tuy nhiên theo nhận định của chúng tôi trà ướp hoa sói của vùng bảo lộc vẫn chưa đạt mức chất lượng cao, có thể do quy trình làm công nghiệp, trà mộc dùng để ướp chủ yếu hái máy cánh trà khá xấu, giống trà dùng để ướp cũng là giống mới cho màu nước đẹp nhưng lại có vị lạt không bằng trà tân cương. Chính vì thể trà ướp hoa sói bảo lộc không được ưa chuộng lắm tại miền bắc do gu uống trà có vị chát và đậm hơn của trà tân cương.

Ở miền bắc nước ta tuy có nhiều giống trà ngon nhưng khí hậu không phù hợp lắm với việc canh tác đại trà hoa sói vì vậy hiện nay cũng khá khó kiếm trà ướp hoa sói ở miền bắc hay Hà Nội nói riêng.

Trà ướp hoa ngọc lan

 

Cây ngọc lan là loại cây thân gỗ lớn cho hoa khá sai thường được trồng làm cảnh và tạo bóng mát trong sân vườn. Hoa ngọc lan thường nở vào mùa hè và có mùi thơm dịu nhẹ. Tuy nhiên cũng không có nhiều người ướp trà với hoa ngọc lan thậm chí có nhiều người còn không biết đến loại trà này và không nghĩ rằng hoa ngọc lan có thể ướp trà.

Hiện nay trên thị trường gần như không có nơi nào bán trà ướp với hoa ngọc lan, vì thể nếu bạn muốn thưởng thức thì phải tự ướp để dùng, cũng khá tiện là hoa ngọc lan cũng không quá khó kiếm ở miền bắc .

 

Người viết : Nguyễn Minh Hải

Nguồn bài viết : Trà Việt Nam

Hướng dẫn chọn và chăm sóc Ấm Tử Sa

Hướng dẫn chọn và chăm sóc Ấm Tử Sa

“Ấm Tử Sa là một trà cụ quan trọng và cần thiết với người yêu trà . Ngoài việc có công năng hoàn hảo trong việc pha trà ấm tử sa còn là một tác phẩm nghệ thuật do những nghệ nhân làm ấm tạo ra … “

Hướng dẫn chọn và chăm sóc Ấm Tử Sa

Hướng dẫn chọn và chăm sóc Ấm Tử Sa

DSC_0185

 

 

Ấm Tử Sa là một trà cụ quan trọng và cần thiết với người yêu trà . Ngoài việc có công năng hoàn hảo trong việc pha trà ấm tử sa còn là một tác phẩm nghệ thuật do những nghệ nhân làm ấm tạo ra . Vì thế nhiều người yêu trà còn mê cả việc sưu tầm ấm,coi việc thưởng lãm ấm tử sa là một thú vui . Ấm tử sa hay ấm tử sa Nghi Hưng rất đa dạng về kiểu dáng,màu sắc,phẩm cấp,nghệ nhân chế tác …. Hiện nay thị trường ấm tử sa ở việt nam rất phong phú,nhiều phẩm cấp khác nhau thật giả lẫn lộn, do đó để chọn được một chiếc ấm tử sa tốt đúng nghĩa khiến nhiều người mới chơi ấm gặp rất nhiều khó khăn .Ngoài việc giá thành của ấm tử sa không hề rẻ và giá cả không có một thước đo nào chính xác khiến cho người chơi ấm có khi phải trả một cái giá rất cao cho một chiếc ấm bình thường . Thêm nữa nghệ nhân làm ấm cũng rất phong phú nhiều đẳng cấp khác nhau,kiểu dáng của ấm thì phải vài cuốn sách dày như từ điển mới liệt kê hêt, màu sắc và phẩm cấp của đất làm ấm cũng muôn hình vạn trạng . Điều này khiến những người mới chơi như lâm vào mê hồn trận thật giả khó phân biệt . Do vậy để giúp những bạn mới nhập môn dễ dàng hơn trong việc chọn ấm thì chúng tôi đã cố gắng viết lại những kinh nghiệm thực tế của bản thân trong việc chơi ấm tử sa .Đây chỉ là những kinh nghiệm cá nhân được đúc rút ra một cách dễ hiểu nhất . Đi vào vấn đề chính để chọn được chiếc ấm tử sa tốt ta có thể căn cứ vào những đặc điểm như thế nào ?

Cách chọn Ấm Tử Sa

 

Chất đất làm ấm tử sa

Chất đất làm ấm tử sa gọi là đất nhưng thực tế là đá tử sa được để phong hóa rồi qua quá trình nghiền,lọc,nhào nặn … mà trở thành nguyên liệu làm ấm . Đât tử sa có năm màu sắc chính ( còn các màu sắc khác thì thường do phối trộn các màu lại với nhau hay trộn thêm khoáng chất khác tạo thành ) năm màu đó là : Tử Sa ( nâu tím ), Chu sa ( đỏ) ,Đoàn sa ( vàng nhạt), Lam sa ( xanh lam ) Lục sa ( xanh luc hay màu xanh vỏ đỗ ) . Để tìm hiểu cụ thể hơn về từng chất đất và các biến thể của nó các bạn có thể tham khảo bài viết : Tổng quan các loại Đất Tử Sa Đó là kiến thức mang tính hàn lâm về đất tử sa còn về cảm nhận thực tế khi cầm,sờ,vuốt, ngửi … thì đất tử sa tốt có những đặc điểm như nếu sờ bằng tay lên bề mặt ấm thì trơn láng mịn màng, da ấm có độ bóng tự nhiên, nhìn tuy bóng nhưng trên bề mặt ấm lại hơi sần tùy theo chất đất mà hạt lớn hay nhỏ .

Khi ngửi trong lòng ấm thì thường phải có mùi đất nếu có mùi khét, mùi hóa học hay các mùi khác lạ thì không nên mua .

Nghe bằng tai : do đất tử sa được nung ở nhiệt độ từ 1000 đến hơn 1300 độ vì vậy nếu nhấc nắp ấm lên hay lấy nắp cà nhẹ và miệng ấm có tiếng kêu thanh thoát vang giòn là ấm tốt nhất là với chất liệu chu sa . tuy nhiên với những loại đất như tử sa có độ xốp lớn tiếng kêu thường không vang giòn mà lộc cộc như tiếng gạch va vào nhau, với loại này ta nên đánh giá bằng hình thái da ấm để phân biệt .

Hình dáng ấm tử sa

Trong các tiêu chí chọn ấm thì hình dáng ấm là thứ làm người chơi ấm thấy cuốn hút nhất. Hình dáng ấm tử sa cực kỳ phong phú nhưng theo tôi thì nên chia làm 2 loại :

Ấm để dùng hàng ngày: có công năng pha trà tốt,dung tích vừa phải

Ấm để trưng bày : hình dáng khác lạ thương mua về để sưu tầm bày tủ cho đẹp là chính đây thường là những ấm có dung tích quá lớn không phù hợp để dùng hàng ngày hoặc những ấm có hình thù cổ quái nhìn thì đẹp nhưng pha trà thì bất tiện .

Để tham khảo các dáng ấm tử sa các bạn có thể đọc thêm bài : Các dáng Ấm Tử Sa phổ biến

Xét riêng về mặt hình dạng ấm hướng đến việc công năng pha trà tốt ta có các tiêu chí sau :

Dung tích vừa phải, thường là những ấm có dung tích từ 300ml trở lên là khá lớn có mua về cũng rất ít khi dùng, nên mua những ấm có dung tích khoảng 80ml đến 180ml phù hợp cho độc ẩm hay quần ẩm .

Nắp ấm : Nắp của chiếc ấm tử sa tốt phải kín khít với thân ấm để khi rót trà không bị trào ra phía ngoài dù có rót trà theo một góc nghiêng lớn cũng không bị rớt trà

Vòi ấm : Không có gì bực mình hơn một chiếc ấm có vòi chảy nước bí, dòng nước không thoát vì thế khi chọn ấm ta nên thử dòng nước xem có tròn đều hay không ( cái này tùy hình dáng lỗ vòi ), lực nước có mạnh, dòng nước chảy ra có suôn sẻ và hướng dòng nước có vị vẹo so với hướng vòi ấm không . Nếu đạt các tiêu chí trên là vòi ấm tốt .

Quai ấm : Phải dễ cầm nắm,thuận tiện cho ta cảm giác thoải mái thi cầm chiếc ấm lên rót trà .

Lưới lọc : là lưới ngăn xác trà phía trong thân ấm, có 3 kiểu là vòi một lỗ không có lưới lọc thường hay có ở ấm cũ,phỏng cổ … Lưới lọc hình thoi và lưới lọc hình bán cầu ( hay lưới lọc kiểu nhật ). Dù là loại nào thì khi nhìn vào ta phải thấy được sự tinh xảo, không có đất thừa bám quanh lỗ trên lưới, hay các đặc điểm cẩu thả . Vì lưới lọc có liên quan mật thiết đến dòng nước, vòi có tròn đẹp đến đâu mà lưới lọc bí thì dòng nước vẫn yếu như thường .

 

Tổng thể dáng ấm và lưới lọc

Tổng thể dáng ấm và lưới lọc

 

Tổng thể ấm : Đối với một sản phẩm thủ công như ấm tử sa thì các chi tiết chế tạo ấm phải cho ta thấy được sự tinh xảo, cẩn thận của người làm ấm thì đó mới là chiếc ấm đáng mua dù có đắt tiền . Vì thế bạn nên ngắm kỹ từng tiểu tiết trên chiếc ấm và trong lòng ấm nếu thấy được sự tinh xảo trong cách chế tác thì đó là chiếc ấm tốt .

Nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

Hiện nay trên thị trường bạn có thể mua được những chiếc ấm giá chỉ hơn 1 triệu VNĐ nhưng được đóng triện các nghệ nhân nổi tiếng vậy đâu là sự thật ?

Vâng ! Sự thật là tiền nào của đó, nếu bạn có số tiền vài triệu đồng mà muốn mua một chiếc ấm của nghệ nhân nổi tiếng là điểu không thể, vì vậy nên tôi khuyên các bạn là đừng nên quan tâm đến nghệ nhân nào chế tác với giá thành đó . Cái bạn cần quan tâm lúc này là chất đất, công năng, cách chế tác mà thôi . Khi nhìn triện ấm thấy đóng ngay ngắn không lệch lạc là ổn .

 

Triện đáy ấm tử sa

Triện đáy ấm tử sa

 

Tất nhiên nếu bạn nhiều tiền sẵn sàng chi vài chục triệu cho một chiếc ấm thì tôi khuyên bạn nên làm chuyến du lich sang Nghi Hưng, gặp các nghệ nhân mua ấm ngay tại cửa hàng của họ và chụp vài kiểu ảnh làm kỷ niệm . Đó là cách chuẩn nhất để bạn có được một chiếc ấm nghệ nhân có tiếng tăm mà không sợ bị hớ .

Nếu bạn muốn tham khảo những nghệ nhân cực kỳ nổi tiếng thì bàn nên tham khảo bài : Nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

 

Chăm sóc Ấm Tử Sa

 

Đến đây là kết thúc phần chọn ấm, bây giờ giả dụ là chùng ta đã mua được chiếc ấm ưng ý rồi thì phải làm gì tiếp theo . Chưa pha trà ngay được đâu các bạn à, phải làm sạch nó đã , tham khảo  bài viết : Cách làm sạch và khử mùi Ấm Tử Sa mới mua này nhé .

Sau khi làm sạch rồi và đưa vào sử dụng hàng ngày bạn cũng phải chú ý việc bảo dưỡng chăm sóc đúng cách ấm tử sa .

Mỗi khi pha trà xong ta nên đổ hết bã trà trong ấm đi, dùng nước sôi tráng sạch trong và ngoài ấm rồi dùng khăn sạch lau sạch sẽ, để ấm ở nới khô thoáng . Nếu ta không đổ bã trà mà để quên trong ấm đến khi trà bị thiu mốc ngấm vào làm hỏng ấm do ấm tử sa hấp thụ mùi rất tốt .

Điều quan trọng nữa là tuyệt đối không rửa ấm bằng xà phòng hay nước rửa bát vì mùi hóa chất có thể ngấm sâu vào trong ấm rất khó tẩy đi . Chỉ rửa ấm bằng tay dưới dòng nước sạch là đủ, sau đó dùng khăn khô lau lại . Nếu bạn có thời gian thì nên lau ấm thật kỹ bằng khăn không xơ hoặc dùng tay chà xát trên thâm ấm ( mùa đông lạnh cắt da mà cầm chiếc ấm vừa pha trà xong ấm sực lên xoa thú lắm ấy ) khi đó chiếc ấm sẽ lên nước bóng rất nhanh theo thời gian . Nhìn một chiếc ấm bóng lên từng ngày dưới công chăm sóc của mình thì bạn sẽ càng ngày càng yêu quý chiếc ấm ấy .

Trên đây là vài thông tin chia sẻ lại từ kinh nghiệm từ bản thân với mong muốn những bạn đồng nghiện chơi ấm có thêm tư liệu tham khảo .

Chúc các bạn có nhiều niền vui bên chén trà !

Trà Thuần Việt

Cách pha Trà Móc Câu – Tân Cương – Thái Nguyên

Cách pha Trà Móc Câu – Tân Cương – Thái Nguyên

Trà Móc Câu danh trà nức tiếng của vùng trà Tân Cương – Thái Nguyên ( Trà Thái ) , có lẽ trong nhiều bạn đọc bài này đã có người đang sử dụng thứ trà móc câu hảo hạng thứ thiệt vùng Tân Cương này .

Cách pha Trà Móc Câu – Tân Cương – Thái Nguyên

Cách pha Trà Móc Câu – Tân Cương – Thái Nguyên

Trà Móc Câu danh trà nức tiếng của vùng trà Tân Cương – Thái Nguyên ( Trà Thái ) , có lẽ trong nhiều bạn đọc bài này đã có người đang sử dụng thứ trà móc câu hảo hạng thứ thiệt vùng Tân Cương này . Nhưng đã bao giờ chúng ta tự hỏi mình pha trà đã đúng cách chưa ?

Rất nhiều người trong chúng ta thích uống trà đặc,pha ngâm,chát đậm … nhưng bạn hãy thử một lần pha trà theo cách mới mẻ hơn, hãy thử và bạn sẽ có một cách nhìn khác hơn về loại Trà Móc Câu mà bạn vẫn hay dùng,tinh tế hơn, cầu kỳ hơn .

 

Chuẩn bị Trà và Trà Cụ

Trà Móc Câu của thương hiệu Trà Thuần Việt được đóng gói 100g mỗi túi, nếu bạn pha cho 2 người uống thì được khoảng 7 ấm trà, còn nếu pha cho 4 người uống ( 10g trên ấm trà ) thì được 5 ấm trà .

Trà cụ : để pha trà móc câu bạn cần các trà cụ sau Ấm trà tốt nhất là sử dụng ấm tử sa để có được hương vị ngon nhất. Chén tống  là chiếc chén lớn hơn chén quân có thể chứa được lượng nước đủ để rót ra các chén quân,ngoài ra mục đích sử dụng của chén tống là tránh việc om trà trong ấm làm nồng hương trà. Chén uống trà ( chén quân ) nên sử dụng chén sứ có men trắng để dễ ngắm màu nước trà . Xúc trà dùng để xúc trà cho vào ấm không nên dùng tay bốc trà khô vì dễ làm lẫn hương từ tay vào trà  tốt nhất là nên dùng xúc trà bằng tre .

 

 

Hướng dẫn pha Trà Móc Câu

Hướng dẫn pha Trà Móc Câu

 

Pha Trà Móc Câu

Nước dùng pha trà

Nước để pha trà rất quan trong nếu không nói là quan trọng nhất và cần chú ý nhất khi pha trà. nếu sử dụng nước máy có nhiều clo thì sẽ làm ảnh hưởng rất tiêu cực đến hương trà nhất là Trà Móc Câu và các loại Trà thái khác . vì vậy nước dùng để pha trà tốt nhất là nước mưa nếu ở thành phố thì không nên dùng nước mưa mà nên sử dụng nước từ máy lọc nước RO hoặc các loại nước tinh khiết đóng chai như aqufina ( không nên dùng các loại nước khoáng như lavie ).

Đun nước pha trà

Ta có thể sử dụng các loại bếp than hoa ,bếp ga, bếp từ, ấm siêu tốc để đun nước nhưng tốt nhất là sử dụng loại bếp có thể nâng nhiệt độ nước lên từ từ ( bếp ga, than hoa, hồng ngoại ) thì nước sẽ tốt hơn khi pha trà . Ta đun nước đến khi sôi rồi rót vào phích để pha trà .

Pha trà

1. Tráng ấm, tráng chén

Dùng nước sôi tráng qua một lượt ấm trà,chén tống và chén quân ngoài mục đích là vệ sinh sạch sẽ trà cụ thì còn có tác dụng làm nóng ấm chén trước khi pha trà .

2. Đánh thức trà

Dùng xúc trà xúc lượng trà vừa đủ cho vào ấm, ở đây tôi dùng ấm cho 4 người uống nên sẽ cho vào ấm khoảng 10g trà khô . rót nước sôi ra chén tống trước, dòng rót cao khoảng 20cm mục đích là để nước nguội bớt không bị quá nóng làm cháy và nồng trà . Sau đó rót nước từ chén tống vào ấm dòng rót cao để cho lá trà khô trong ấm được đảo đều đến khi nước trong ấm gần đầy thì rót nhẹ tay cho nước trào ra ngoài kéo theo bọt đi ra ngoài . Đạy nắp ấm lại rồi lắc nhẹ rót hết nước nước ra ngoài đây là nước tráng trà .

3. Ủ trà

Rót nước vào ấm cho ngập khoảng 1/2 lượng trà trong ấm rồi ngâm khoảng 8 giây mục đích là để cho trà trong ấm được ngấm nước và nở ra tinh chất trà được lưu giữ lại và làm nước trà bền hơn trong các lần pha .

4.Pha trà

Rót nước trong phích vào tống như bước đánh thức trà,rồi rót tiếp từ tống vào ấm cho gần đầy ấm ( hoặc cao bằng mặt của trà trong ấm ) ngâm trong khoảng 10 giây rồi rót hết trà ra chén tống . Để nguyên ấm trà như vậy không rót thêm nước vào ấm nữa .

5. Các lần ủ trà tiếp theo

Với các lần ủ trà tiếp theo ta ngâm trà trong khoảng 15 giây rồi cũng rót hết ra chén tống. với Trà Móc Câu nếu các bạn tuân thủ các bước pha trà như trên thì trà có thể uống được tới 5 lần ủ trà

Điều cần chú ý nhất:  với cách pha trà này là không ngâm trà,thông thường theo cách pha trà thông dụng trong các gia đình là ngâm trà trong ấm dùng đến đâu rót ra đến đấy và thiếu nước thì châm thêm không dùng chén tống, cách pha này làm hương trà bị nồng,vị trà gắt . Các bạn nên pha trà có kèm theo chén tống và không ngâm trà thì sẽ thưởng thức được hương vị trà tốt nhất,trà bền nước hơn .

Thưởng Trà

Sau khi rót trà ra chén tống ta có thể bắt đầu rót trà từ chén tống ra các chén quân để thưởng thức . Đầu tiên ta uống một ngụm nhỏ trước đồng thời ngửi mùi hương của trà vừa kiểm tra vị của trà , sau đó ta uống một ngụm lớn vừa đủ đầy khoang miệng để trà tiếp xúc hết các gai vị giác trong khoang miệng làm cho ta có thể cảm nhận được toàn bộ hương vị của trà . Cuối cùng là uống nốt phần trà còn lại trong chén và vừa cảm nhận hậu vị của trà .

Trên đây là phương pháp pha trà và thưởng trà dựa trên kinh nghiệm riêng của Trà Thuần Việt, nếu các bạn có phương pháp pha trà nào tốt hơn vui lòng liên hệ với chúng tôi để cùng chia sẻ với mọi người .

Chúc các bạn có nhiều niềm vui bên chén trà !

Trà Thuần Việt

Nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

Nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

” Trong suốt chiều dài phát triển của ấm tử sa đã xuất hiện rất nhiều nghệ nhân nổi tiếng với những kỹ thuật chế tác độc đáo, sáng tạo khác nhau … “

Nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

Nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

Trong suốt chiều dài phát triển của Ấm Tử Sa đã xuất hiện rất nhiều nghệ nhân nổi tiếng với những kỹ thuật chế tác độc đáo, sáng tạo khác nhau, tuy nhiên trong loạt bài viết này tôi sẽ chỉ đề cập tới một số nghệ nhân trong thế kỷ XX những người có cống hiến rất lớn cho ngành ấm tử sa. Hai nghệ nhân vẫn thường được nhớ đến nhiều nhất là Cố Cảnh Chu và Tưởng Dung không chỉ bởi những tác phẩm họ tạo ra mà những học trò của họ cũng rất xuất sắc.

 

Cố Cảnh Chu

 

Cố nghệ nhân Cố Cảnh Chu (1915 – 1992) là một người thầy vĩ đại về nghệ thuật ấm tử sa của Trung Quốc, ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghề thủ công làm ấm. Năm 18 tuổi ông bắt đầu sự nghiệp đầy vẻ vang của mình và chỉ 2 năm sau ông đã là một thợ thủ công có tiếng ở đất Nghi Hưng. Những chiếc ấm do ông tạo ra không chỉ có tính ứng dụng cao mà tính nghệ thuật và thẩm mỹ cũng rất cao. Bên cạnh đó ông cũng tham gia công tác đào tạo và nhiều nghệ nhân nổi tiếng sau này là học trò của ông như: Từ Hán Đường, Lý Cảnh Hồng, v.v… Một số tác phẩm ấm tiêu biểu của ông: Thạch biều, Báo xuân mai, Tăng mao, Liên tử, Châu bàn, Như ý v.v…

 

Nghệ nhân Cố Cảnh Chu và một số dang ấm tiêu biểu

Nghệ nhân Cố Cảnh Chu và một số dang ấm tiêu biểu

 

 

Tưởng Dung

 

Tưởng Dung và một số dáng ấm tử sa tiêu biểu

Tưởng Dung và một số dáng ấm tử sa tiêu biểu

 

Nghệ nhân nổi tiếng tiếp theo cũng thường được nhớ tới là Tưởng Dung, bà cũng là một người thầy vĩ đại của nghệ thuật ấm tử sa mà Trung Quốc đã sản sinh ra. Tưởng Dung sinh năm 1919 trong một gia đình cũng có truyền thống nghề thủ công ở Nghi Hưng, năm 11 tuổi bà bắt đầu theo cha mẹ học nghề làm ấm. Năm 1936 bà cho ra đời tác phẩm Nho sóc, năm 1939 bà gia nhập một công ty ở Thượng Hải chuyên làm đồ giả cổ. Năm 1945 bà quay trở về quê hương Nghi Hưng và chuyên tâm làm ấm. Năm 1955 bà cùng một số người khác đã thành lập hiệp hội nghề làm ấm tử sa ở Nghi Hưng. Từ năm 1966 – 1975 là giai đoạn diễn ra cuộc Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc nên nghề làm ấm tử sa cũng bị gián đoạn. Năm 1975 bà cho ra đời tác phẩm Sen vịt, năm 1977 là tác phẩm Cà tím, Bí ngô. Năm 1995 là tác phẩm Trường thọ, Bích Hoa và còn rất nhiều các tác phẩm tuyệt vời khác. Những tác phẩm của bà thường lấy cảm hứng và cách điệu theo hình dáng của cỏ cây hoa lá và tất nhiên có tính nghệ thuật rất cao. Năm 1955 chiếc Ấm Sen của bà đã được Thủ tướng Chu Ân Lai dùng làm tặng phẩm cho nước ngoài. Bà cũng đào tạo ra nhiều lớp nghệ nhân xuất sắc sau này trong đó phải kể tới con gái bà Tưởng Nghệ Hoa. Trải qua nhiều thăng trầm của nghề làm ấm hiện nay bà đã được công nhận là Đại mỹ thuật công nghệ sư và là giám khảo trong các cuộc thi ấm .

 

Từ Hán Đường

 

Nghệ nhân Từ Hán Đường sinh năm 1932 cũng trong một gia đình có truyền thống nghề thủ công, năm 1948 ông bắt đầu tham gia làm ấm tử sa. Trong những năm 1950 ông theo học nghệ nhân Cố Cảnh Chu, những tác phẩm của ông có hình dáng phong phú, điêu luyện về kỹ thuật và tinh xảo về đường nét. Ông cũng tham gia công tác nghiên cứu và viết sách, các cuốn sách ông đã cho ra đời như Nghệ thuật ấm tử sa truyền thống, Trà và ấm, Hình dáng ấm trà truyền thống. Các tác phẩm của ông hiện đang được lưu giữ tại một số các bảo tàng rất nổi tiếng cả trong và ngoài nước như Bảo tàng Nam Kinh, Bảo tàng Lịch sử trung Quốc, Bảo tàng Trà cụ tại Hồng Kông, Bảo tàng Hoàng gia Bỉ và Bảo tàng Victory tại Anh .

Từ Hán Đường và một số dáng ấm tiêu biểu

Từ Hán Đường và một số dáng ấm tiêu biểu

 

 

Uông Dân Tiên

 

Nghệ nhân Uông Dân Tiên sinh năm 1943, năm 14 tuổi bà bắt đầu tham gia làm ấm tử sa và đến năm 17 tuổi bà đã nhận được sự dẫn dắt, dạy dỗ của nhiều nghệ nhân nổi tiếng. Sau hơn 10 năm làm ấm dưới sự dìu dắt của nhiều người thầy lớn bà đã đã đạt được những kinh nghiệm và hiểu biết sâu rộng về gốm sứ nói chung và tử sa nói riêng. Tính đến nay bà đã có hơn 100 tác phẩm đạt nhiều giải vàng tại các triển lãm gốm sứ nghệ thuật cả trong và ngoài nước, phần lớn các tác phẩm đó được sử dụng như lễ vật quốc gia tặng các chính khách nước ngoài và được lưu giữ tại nhiều bảo tàng lớn như Bảo tàng quốc gia Băc Kinh.

Uống Dân Tiên và một số dáng ấm tiêu biểu

Uống Dân Tiên và một số dáng ấm tiêu biểu

 

 

Bao Chí Cường

 

Bao Chí Cường sinh năm 1946 tại Nghi Hưng, năm 1959 ông bắt đầu học nghề gốm và dưới sự hướng dẫn của nghệ nhân Ngô Vân Căn ông học khắc trên chất liệu gốm. Năm 1965 ông được nghệ nhân Nhậm Hán Đình hướng dẫn , năm 1975 ông nghiên cứu tại Học viện Mỹ thuật trung ương Trung Quốc về nghệ thuật gốm sứ. Ông nổi tiếng với kỹ thuật kết hợp nghệ thuật hội hoạ, điêu khắc và thư pháp vào những chiếc ấm tử sa. Những tác phẩm của ông đã đạt rất nhiều giải vàng tại các triển lãm đồ thủ công gốm sứ cả trong và ngoài nước, và hiện các tác phẩm đó đang nằm trong các viện bảo tàng lớn như Bảo tàng Bắc Kinh, Bảo tàng Nam Kinh, Viện nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ Trung Quốc. Hiện ông đang nắm giữ vị trí Giám đốc nghệ thuật hiệp hội gốm tỉnh Giang Tô, Phó chủ tịch hiệp hội nghiên cứu Văn hoá và Nghệ thuật Nghi Hưng Trung Quốc và được công nhận là nghệ nhân cấp quốc gia

 

Bao Chí Cường và một số dáng ấm tiêu biểu

Bao Chí Cường và một số dáng ấm tiêu biểu

 

 

Đàm Tuyền Hải

 

Đàm Tuyền Hải sinh năm 1939 tại Giang Tô – Nghi Hưng, ông tốt nghiệp Học viện Nghệ thuật Trung ương khoa Thủ công mỹ nghệ năm 1976. Năm 2004 ông chính thức được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân cấp quốc gia. Các tác phẩm của ông cũng từng tham gia các cuộc thi, triển lãm quốc tế và dành được nhiều giải vàng như giải vàng năm 1984 tại Hội chợ Leipzig – Đức, giải nhất năm 1985 tại Triển lãm các sản phẩm mới tỉnh Giang Tô, năm 1989 tại Triển lãm hội hoạ và thư pháp tỉnh An Huy – Chiết Giang, v.v… Ông cũng từng nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng như Phó chụ tịch hội nghệ thuật gốm sứ Trung Quốc khoá VII, VIII, IX , Chủ tịch hội điêu khắc Hồng Kông – Trung Quốc

Đàm Tuyền Hải và một số dáng ấm tiêu biểu

Đàm Tuyền Hải và một số dáng ấm tiêu biểu

 

 

Lý Xương Hồng

 

Lý Xương Hồng sinh năm 1937 tại Nghi Hưng, năm 1955 ông bắt đầu học nghề gốm tử sa dưới sự chỉ dạy của cố nghệ nhân Cố Cảnh Chu. Các tác phẩm của ông cũng đã từng dành nhiều giải vàng tại các triển lãm, hội trợ trong và ngoài nước. Bên cạnh đó ông cũng dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu và biên tập các tài liệu về nghệ thuật Tử sa. Chính nhờ những công hiến đó mà năm 1989 ông đã được Chính quyền tỉnh Giang Tô phong tặng nghệ nhân cấp cao, đến năm 2000 ông được Chính phủ Trung Quốc trao tặng danh hiệu nghệ nhân cấp quốc gia

 

Lý Xương Hồng và các dáng ấm tiêu biểu

Lý Xương Hồng và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Châu Quế Trân

 

Châu Quế Trân sinh năm 1943 tại Nghi Hưng, bà là nghệ nhân cấp cao và cũng là một học trò xuất sắc của nghệ sư Cố Cảnh Chu

 

Châu Quế Trân và các dáng ấm tiêu biểu

Châu Quế Trân và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Cố Thiệu Bồi

 

Cố Thiệu Bồi sinh năm 1945 trong gia đình có truyền thống về gốm sứ, năm 1958 ông bắt đầu vào trường học nghề Tử sa dưới sự giúp đỡ chỉ dạy của nghệ sư Cố Cảnh Chu. Các tác phẩm của ông đã từng dành đến 18 giải vàng cấp quốc gia và cấp tỉnh, năm 1989 ông từng là Phó chủ tịch hội gốm sứ tỉnh Giang Tô

 

Cố Thiệu Bồi và các dáng ấm tiêu biểu

Cố Thiệu Bồi và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Hà Đạo Hồng

 

Hà Đạo Hồng sinh năm 1943 tại Nghi Hưng là nghệ nhân cấp cao, năm 1958 ông bắt đầu tham làm ấm tử sa dưới sự chỉ dẫn của Bùi Thạch Dân. Từ năm 1975 đến 1980 ông nghiên cứu tại Học viện Mỹ thuật trung ương Trung Quốc, các tác phẩm của ông đã từng dành nhiều giải vàng tại các liên hoan triển lãm nghệ thuật và còn được lựa chọn sử dụng làm quà tặng quốc gia. Hơn 30 năm làm ấm ông đã tạo ra hơn 100 tác phẩm với nhiều hình dáng đặc sắc khác nhau, phần lớn chúng đều đang năm trong các viện bảo tàng lớn cả trong và ngoài nước. Bên cạnh đó ông cũng tham gia nghiên cứu và giảng dạy tại các viện và trường đại học lớn như Viện hàn lâm Mỹ thuật trung ương, Đại học Thanh Hoa .

 

Hà Đạo Hồng và các dáng ấm tiêu biểu

Hà Đạo Hồng và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Lưu Kiến Bình

 

Lưu Kiến Bình sinh năm 1957 là nghệ nhân cấp cao, năm 1976 ông bắt đầu học nghề Tử sa. Năm 1983 ông tốt nghiệp Học viện nghệ thuật Nam Kinh, năm 1989 ông tốt nghiệp Học viện mỹ thuật Trung ương. Các tác phẩm của ông cũng từng tham gia và dành nhiểu giải vàng tại các hội trợ, triển lãm trong và ngoài nước

Lưu Kiến Bình và các dáng ấm tiêu biểu

Lưu Kiến Bình và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Thẩm Cừ Hoa

 

Năm 1955 Thẩm Cừ Hoa bắt đầu ra nhập làng Tử sa dưới sự hướng dẫn của Cố Cảnh Chu, năm 1958 bà tham gia giảng dạy và nghiên cứu về đất Tử sa. Từ năm 1979 – 1982 bà tham gia Hội liên hiệp phụ nữ Trung Hoa và được hội trao tặng giải bàn tay vàng trong cuộc thi trào mừng thành lập hội. Năm 1989 bà đã đạt danh hiệu công nghệ mỹ thuật cấp cao, năm 1999 bà được tỉnh Giang Tô trao tặng danh hiệu công nghệ mỹ thuật sư và đến năm 2007 bà trở thành đại mỹ thuật công nghệ sư. Các tác phẩm của bà hiện đang lưu giữ tại rất nhiều các bảo tàng lớn cả trong và ngoài nước, bà từng kết hợp với Lý Xương Hồng cùng thực hiện tác phẩm “Trà Trúc” và đạt giải vang tại triển lãm Leipzig .

 

Thẩm Cừ Hoa và các dáng ấm tiêu biểu

Thẩm Cừ Hoa và các dáng ấm tiêu biểu

 

 

Lời kết về các nghệ nhân làm Ấm Tử Sa

 

Xuôi dòng phát triển theo thời gian tôi vừa điểm lại 12 gương mặt nghệ nhân tiêu biểu của nghệ thuật Tử sa trong thế kỷ XX, trên thực tế còn rất nhiều những tên tuổi khác mà trong các bài viết sau có dịp tôi sẽ đề cập tới. Đây là 12 gương mặt thường hay được nhớ đến không chỉ bởi những tác phẩm tuyệt tác họ đã tạo ra mà còn bởi những cống hiến cho ngành gốm sứ Trung Quốc nói chung. Họ đều là những con người rất tài năng, mỗi người đều có những nét riêng biệt và đặc sắc trong việc chế tác ấm tử sa. Hai cố nghệ sư Cố Cảnh Chu và Tưởng Dung được coi là những người tiên phong đặt nền móng cho phong cách chế tác ấm tử sa đương đại. Các tác phẩm của Cố Cảnh Chu có hình dáng kết cấu đơn giản vững chắc chủ yếu là hình khối tròn hoặc lập phương thiên về công năng sử dụng hàng ngày nhưng vẫn mang tính nghệ thuật cao. Trái lại các tác phẩm của Tưởng Dung lại rất hay sử dụng các chi tiết trang trí cầu kỳ bên ngoài thân ấm, trên nắp ấm mang màu sắc thiên nhiên vì được cách điệu từ cỏ cây hoa lá chim thú. Sự ảnh hưởng này được thể hiện rất rõ trên các tác phẩm của lớp nghệ nhân là học trò của hai ông/bà sau này. Uông Dân Tiên cũng là nghệ nhân hay sử dụng các chi tiết trang trí bên ngoài thân ấm, Bao Chí Cường lại thích sử dụng thư pháp và hội hoạ để khắc lên thân ấm. Lý Xương Hồng và Châu Quế Trân luôn thích lấy cảm hứng từ những dáng ấm truyền thống rồi cách điệu một vài chi tiết như vòi, quai, nắp ấm. Trong khi Thẩm Cừ Hoa lại hay sử dụng phương pháp cách điệu các chi tiết trên ấm với hình dáng của những con thú. Nghệ nhân họ Hà nổi tiếng với những chiếc ấm có vòi và quai rất đặc biệt không thể lẫn với ai, kỹ thuật đó ảnh hưởng tới cả con gái ông sau này là Hà Yến Bình .

 

Nguồn : facebook Yixing Hu Tea

Tổng hợp : Trà Thuần Việt

 

Tổng quan các loại Đất Tử Sa

Tổng quan các loại Đất Tử Sa

” Trên thực tế có rất nhiều loại đất tử sa với những tên gọi khác nhau được sử dụng để làm ấm, cách đặt tên đất cũng có nhiều kiểu nhưng chủ yếu thường được đặt theo sắc độ (màu sắc) của đất … “

Tổng quan các loại Đất Tử Sa

Tổng quan các loại Đất Tử Sa

Các loại đất thường hay được sử dụng trong sản xuất ấm tử sa

 

Thuật ngữ Đất sét (clay) chắc hẳn không xa lạ với chúng ta, nó được dùng để miêu tả một loại đất rất giàu khoáng chất với thành phần chính là oxit và silic. Nghi Hưng (Yee zhing) thuộc tỉnh Giang Tô (Jiangsu) của Trung Quốc không phải là nơi khởi nguồn của đất sét nhưng ở đây lại có một loại đất sét rất đặc biệt và nổi tiếng mà ta vẫn hay gọi là đất Tử sa (Zhisa). Nghi Hưng cũng một là cái nôi tạo ra những chiếc ấm tử sa tốt nhất và đẹp nhất. Đất sét Nghi Hưng có rất nhiều loại khác nhau, tuy nhiên ta có thể chia thành 2 nhóm lớn sau:
• Đất sét thường (Earth Clay): là loại đất được sử dụng một cách phổ biến để tạo ra các sản phẩm gốm thông dụng trong đó có ấm trà (loại đất này ở các làng gốm của Việt Nam cũng có, tuy có thể khác một chút về thành phần cấu tạo)
• Đất sét đá (Stone Clay): loại đất mà ta vẫn thường gọi là đất Tử sa (Zhisa, Zini hay Purple Clay) và là loại đất đặc biệt chỉ ở vùng Nghi Hưng mới có và được dùng để sản xuất Ấm Tử Sa .
Tử sa là thuật ngữ dùng để miêu tả loại đất sét có sắc độ tím (purple), và ngoài ra ở Nghi Hưng còn rất nhiều loại đất có sắc độ khác nhau như: đỏ (zhu ni, hong ni), xanh lục (lu ni), vàng (duan ni), v.v… Tuy nhiên trên thực tế Tử sa đã trở thành một thuật ngữ chung để chỉ loại đất sét có xuất xứ từ Nghi Hưng
Như đã biết, đất sét Nghi Hưng (Stone Clay) là loại đất có cấu trúc và thành phần cấu tạo gồm oxit sắt, silic, mica, kaolinite cùng nhiều khoáng chất khác trong đó oxit sắt là thành phần chủ yếu. Chính nhờ thành phần cấu tạo đặc biệt này mà những chiếc ấm trà từ Nghi Hưng luôn có những ưu điểm rất tuyệt vời như: chịu được nhiệt rất cao (>1000C), giữ được trọn vẹn hương vị của trà, dù trà để rất lâu trong ấm sau khi đã sử dụng xong nhưng vẫn ko bị mốc hoặc thiu, v.v…

 

phân biệt đất làm tử đá hay bùn

phân biệt đất làm tử đá hay bùn

 

Chất lượng đất tử sa ở Nghi Hưng (Stone Clay)

 

Về cơ bản chất lượng đất sét sử dụng để làm ấm được chia thành 3 loại như sau:
• Đất sét nguyên khoáng (Original, Natural): đây là loại đất tự nhiên được khai thác trực tiếp từ các mỏ núi đá ở Nghi Hưng và là loại đất có chất lượng tốt nhất để làm ấm. Nhưng do khai thác quá nhiều nên hiện nay số lượng đất nguyên khoáng còn lại không nhiều và ngày càng trở nên khan hiếm
• Đất phối (Mixed): đây là loại đất được tạo ra bằng cách phối đất nguyên khoáng với nhau, hoặc phối đất nguyên khoáng với một vài nguyên liệu tự nhiên khác (nguyên liệu tự nhiên chủ yếu được sử dụng để phối là cát vì nó có tính chất và thành phần cấu tạo tương đương). Đất phối được tạo ra với mục đích chính là tận dụng đất nguyên khoáng vì như trên đã nói đất nguyên khoáng ngày càng hiếm
• Đất nhân tạo (Artificial): đây là loại đất được tạo ra bằng cách phối thêm một số thành phần hoá học khác vào đất (có thể là đất sét hoặc đất bùn) để tạo ra một chất liệu mới, hiện nay loại đất này được sử dụng rất nhiều để tạo ra những chiếc ấm mới với màu sắc đa dạng và bắt mắt nhưng chất lượng đất thì không thể tốt được bằng đất nguyên khoáng

 

các loại đất đang được sử dụng để làm ấm ở Nghi hưng

Các loại đất tử sa ở Nghi hưng

 

 

Các loại đất tử sa nguyên khoáng cơ bản quen thuộc thường được sử dụng để tạo nên ấm trà

 

 

5 loại đất tử sa nguyên khoáng

5 loại đất tử sa nguyên khoáng

 

Trên thực tế có rất nhiều loại đất với những tên gọi khác nhau được sử dụng để làm ấm, cách đặt tên đất cũng có nhiều kiểu nhưng chủ yếu thường được đặt theo sắc độ (màu sắc) của đất. Trong phạm vi phần này tôi sẽ chỉ đề cập tới những loại đất nguyên khoáng cơ bản mà các nghệ nhân làm ấm thường hay sử dụng. Và cũng chính từ những mẫu đất cơ bản này mà người nghệ nhân có thể sáng tạo bằng cách phối hoặc tạo ra các chất liệu đất khác nhau.
Chắc chắn rồi đầu tiên phải kể tới là đất Tử sa (Zi ni) có màu chủ yếu là nâu tím hoặc tím đen. Tiếp đến là đất Hồng sa (Hong ni) có thành phần cấu tạo nguyên khoáng gần giống Tử sa nhưng lại có màu đỏ nhạt. Lục sa nguyên khoáng (Lu ni) có màu xanh lá nhạt, đây là loại đất khá hiếm trong tự nhiên và có kết cấu không được bền nên thường được phối với Tử sa hoặc một vài nguyên liệu khác để tạo thành ấm. Đoàn sa (Duan ni) là loại đất có hàm lượng thạch anh và khoáng chất cao hơn cả, nó có màu chủ yếu là màu vàng. Cuối cùng là loại đất thích hợp để làm các dáng ấm nhỏ hoặc vừa phải mà người chơi ấm thường rất thích sưu tầm, đó là đất Chu sa (Zhu ni). Loại đất này có màu đỏ bóng và cũng là loại đất hiếm được chiết xuất từ sâu trong tĩnh mạch đá. Tuy nhiên sắc độ màu của đất còn phụ thuộc vào cả nhiệt độ khi nung ấm, nung ấm ở nhiệt cao màu sắc sẽ khác khi nung ở nhiệt độ thấp.
Như vậy trong ba bài viết trên tôi đã cố gắng tóm lược và đưa ra những nét tổng quan về loại đất sét được dùng để làm ấm. Tuy nhiên thực tế vẫn còn rất nhiều loại đất sét khác mà trong khuôn khổ bài viết này tôi chưa đề cập tới. Phần tiếp theo tôi sẽ nói rõ hơn về từng loại đất nguyên khoáng được sử dụng.

 

Đất tử sa (Zi ni)

 

 

đất tử sa

Đất tử sa

 

Như các bạn đã biết đối với đất nguyên khoáng cách đặt tên thường dựa trên màu sắc của đất, tuy nhiên trong thực tế màu sắc của đất rất đa dạng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: nguồn gốc đất được khai thác (địa tầng, đất vỉa ngoài, hay đất lõi), nhiệt độ nung hoặc cũng có thể do nghệ nhân làm phối thêm các thành tố khác v.v… Đất tử sa là loại đất được sử dụng phổ biến nhất, nhiệt độ chịu nung của nó khoảng 1180°C và độ co ngót so với ban đầu khoảng 10% – 11%. Về màu sắc nhiều tài liệu mô tả đất tử sa có màu tím gọi là cát tím (purple sand) nhưng thực tế đất tử sa có màu nâu tím (purple-brownish) hoặc màu nâu (brown) nhiều hơn.

 

Đất hồng sa (Hong ni)

 

 

Đất hồng sa

Đất hồng sa

 

Đất Hồng sa có nhiệt độ chịu nung khoảng 1100°C và độ co ngót so với ban đầu khoảng 14%. Về màu sắc đất Hồng sa có màu đỏ-cam là chủ yếu, và vì Hồng sa nguyên khoáng gốc là tử sa nên nó có cả màu đỏ-nâu. Đặc biệt đất hồng sa cũ (đất già, đã được khai thác lâu) có màu đỏ sậm nhưng bây giờ loại này rất hiếm

 

Đất lục sa (Lu ni)

 

 

Đất lục sa

Đất lục sa

 

Đất Lục sa nguyên khoáng được mô tả là có các chấm màu xanh nhạt (light-green) và là loại đất hiếm trong tự nhiên, nhiệt độ chịu nung của nó khoảng 1160°C và độ co ngót so với ban đầu khoảng 14%. Cũng do Lục sa là đất hiếm và kết cấu màu sắc không bền nên đất Lục sa thường hay được phối với các loại đất khác hoặc các nguyên liệu khác khi làm ấm.

 

Đất đoàn sa (Duan ni)

 

 

Đất đoàn sa

Đất đoàn sa

 

Đất Đoàn sa nguyên khoáng được mô tả có màu vàng là chủ yếu (yellow) ngoài ra còn có màu be (beige) hoặc vàng be và cũng là loại đất hiếm trong tự nhiên, nhiệt độ chịu nung của nó khoảng từ 1175°C – 1180°C, độ co ngót so với ban đầu khoảng 12% .

 

Đất chu sa (Zhu ni)

 

Đất chu sa

Đất chu sa

 

Không biết các bạn thế nào chứ với tôi Chu sa nguyên khoáng là loại đất tôi yêu thích nhất, tôi thích cái màu đỏ có vẻ thô nháp nhưng lại bóng bẩy của nó . Trong tự nhiên Chu sa là loại đất có nhiệt độ chịu nung cao nhất khoảng 1700°C và độ co ngót so với ban đầu khoảng từ 18% – 25%. Với tình trạng đất ngày càng khan hiếm như hiện nay thì việc sở hữu được 1 chiếc ấm đất Chu già quả thực là khá khó. Chính vì lẽ đó để đáp ứng nhu cầu người chơi, ngày nay người ta rất hay dùng hoá chất hoặc nguyên liệu khác để phỏng lại màu đất Chu sa.

 

Ở trên là các loại đất chính nhưng hiện nay do sự phối trộn rất nhiều các loại đất lại với nhau tạo thành các màu đất đẹp hơn,lạ hơn. Dưới đây là liệt kê sơ bộ  các loại đất có thể dùng làm ấm, bao gồm 5 loại đất chính đã giới thiệu phía trên.

25 loại đất cơ bản dùng sản xuất Ấm Tử Sa

 

1. Kim quế sa
2. Nguyên khoáng đế tào thanh
3. Nguyên khoáng tử nê
4. Hồng bì long
5. Nguyên khoáng đoàn nê
6. Thiên thanh nê
7. Nguyên khoáng giáng ba nê
8. Nguyên khoáng chu nê
9. Nguyên khoáng thanh thuỷ nê
10. Bổn sơn lục nê
11. Nguyên khoáng hồng nê
12. Thanh khôi nê
13. Nguyên khoáng hắc tinh thổ
14. Nguyên khoáng tử gia nê
15. Cổ đồng nê
16. Hoàng kim đoàn
17. Chi ma đoàn
18. Lão đoàn nê
19. Nguyên khoáng hắc nê
20. Đại hồng bào
21. Nguyên khoáng lục nê
22. Hắc tật tinh
23. Tiểu môi diêu chu nê
24. Nguyên khoáng mặc lục nê
25. Hắc chi ma tử nê

Tuỳ theo trình độ tay nghề, bí quyết pha chế đất,… các nghệ nhân sẽ dùng đất nguyên khoáng hoặc pha trộn hai hay nhiều loại đất lại với nhau tạo thành hàng ngàn loại đất có thành phần khác nhau để phục vụ cho nhu cầu chế tác của họ

Tuy nhiên cần lưu ý rằng các loại đất này có màu nguyên thuỷ là sậm, tối hoặc sáng nhạt nên trên lý thuyết nếu họ pha trộn lại với nhau thì các sản phẩm đất họ tạo ra cũng không thể sáng, bỏng bẩy được. Vì vậy các nghệ nhân có thể pha thêm các thành phần khác vào đất tạo các sản phẩm có màu độc đáo hơn và đó là bí quyết riêng của họ

 

Nguồn : facebook Yixing Hu Tea và tổng hợp lại từ các tư liệu khác .

Tổng hợp : Trà Thuần Việt

 

Ấm Tử Sa nghệ nhân tăng giá, xuất hiện hàng giả

Ấm Tử Sa nghệ nhân tăng giá, xuất hiện hàng giả

” Hiện nay trên thị trường Ấm Tử Sa đang rất sôi động, đủ loại kiểu dáng,màu đất được đóng triện của nhiều nghệ nhân khác nhau trong đó có những nghệ nhân cấp quốc gia … “

Ấm Tử Sa nghệ nhân tăng giá, xuất hiện hàng giả

Ấm Tử Sa nghệ nhân tăng giá, xuất hiện hàng giả

Hiện nay trên thị trường Ấm Tử Sa đang rất sôi động, đủ loại kiểu dáng,màu đất được đóng triện của nhiều nghệ nhân khác nhau trong đó có những nghệ nhân cấp quốc gia cực kỳ nổi tiếng nhưng được bán với giá rất hợp ví . Vậy đâu là sự thật của việc này hãy cùng tham khảo một bài viết điều tra về Ấm Tử Sa của các nghệ nhân nổi tiếng ở Nghi Hưng – Trung Quốc .

Bài phóng sự điều tra về chiếc Ấm Tử Sa dáng Thấu Tuyền của nghệ nhân Mao Quốc Cường mời các bạn theo dõi :

 “Tôi thấy cái ấm Thấu Tuyền này trên báo, tôi đã gặp mười mấy cái trên mạng TaoBao và tại một số cửa hàng, giá bán rất khác nhau. Lẽ nào nghệ nhân Mao Quốc Cường có thể chế tác ra nhiều loại ấm Thấu Tuyền như thế này sao? Tất cả những ấm này đều là thật à?”

 

Ấm Tử Sa Thấu Tuyền trên trang web taobao

Ấm Tử Sa Thấu Tuyền trên trang web taobao

 

Đó là thắc mắc của một người đang tìm mua Ấm Tử Sa Thấu Tuyền của nghệ nhân Mao Quốc Cường .Rút cục sự tình ra sao, phóng viên cũng tiến hành tìm hiểu.

Mấy chục ấm tử sa Thấu Tuyền, trong đó có ấm giả

  Ngày 15/5, phóng viên nhập 6 ký tự trên mạng Tao Bao “Ấm Thấu Tuyền Mao Quốc Cường”, kết quả tìm kiếm được 3 cửa hàng có bán ấm Thấu Tuyền này, giá bán khoảng trên 50.000 NDT

Phóng viên cũng nhập những ký tự như vậy trên mạng Baidu, trang đầu tiên hiển thị cửa hàng ẤmTử Sa cũng đang bán loại ấm này nhưng không có giá niêm yết cụ thể.

 Trong vai người mua ấm, phóng viên đi hỏi giá một cửa hàng có bán loại ấm này trên mạng TaoBao, chủ cửa hàng nói: “Một nghệ nhân tài giỏi thường cả cuộc đời sẽ làm được 20 đến 30 chiếc ấm Tử Sa vì thế trên thị trường sẽ có nhiều ấm Tử Sa giống nhau”

 Nếu dựa vào sự giải thích như vậy,  Lưu Binh thấy rất nhiều ấm Thấu Tuyền Mao Quốc Cường là chuyện bình thường, sự thực có như vậy hay không?

 Để có lời giải thích chính xác nhất cho vấn đề này .Phóng viên liên lạc với người làm ra chiếc ấm Thấu Tuyền này, nghệ nhân mỹ thuật công nghệ cấp quốc gia Mao Quốc Cường ở vùng Nghi Hưng

 Nghệ nhân Mao Quốc Cường nói với phóng viên, ấm Thấu Tuyền mặc dù không phải là chỉ có một kiểu dáng, một cái duy nhất, nhưng số lượng làm ra rất ít. Nhưng hiện tại có tổng cộng bao nhiêu cái ông không tiết lộ

Hội trưởng hiệp hội Tử Sa đồ sứ Tân Cương Lỗ Kiến Huy nói với phóng viên, theo như ông được biết về nghệ nhân ấm, khi nghệ nhân chế tác chiếc ấm Tử Sa, để đảm bảo tỷ lệ thành công, không phải là một chiếc lò chỉ nung một cái ấm, mà có rất nhiều ấm tử sa giống nhau cùng được đặt trong một lò, đợi sau khi hoàn tất việc chế tác, ấm nung thành công không bị lỗi cũng không vượt quá 3 đến 5 cái. Trên thị trường xuất hiện mấy chục ấm Thấu Tuyền của Mao Quốc Cường thì chứng tỏ được rằng có đồ giả .

 Còn về việc Lưu Binh có gặp ấm Thấu Tuyền giả hay không, Mao Quốc Cường nói” Chưa nhìn thấy vật thật, không thể kết luận được. “Những nghệ nhân mỹ thuật công nghệ nổi tiếng tỉnh Giang Tô Cát Quân lại thẳng thắn bộc bạch: Một nghệ nhân giỏi thông thường chỉ có thể làm được 5-6 ấm cùng loại, đã là nghệ nhân giỏi thì không làm ra số lượng nhiều như người công nhân bình thường.

 Về các ấm tử sa nghệ nhân giả, Tô Cát Quân không lấy gì làm ngạc nhiên. Sau  năm 2000, ông đã thiết kế ấm Hán Phong 6 góc, do các đệ tử chế tác, số lượng sản xuất khoảng 200 cái. Nhưng về sau ông mới hiểu được tình hình, trên thị trường có cả nghìn chiếc ấm như vậy

 Ông tiết lộ, nghệ nhân ấm Tử Sa hầu hết thời gian đều dùng vào việc dạy học, nghiên cứu thiết kế, hàng năm chỉ sản xuất được khoảng 20-30 ấm Tử Sa, tính bình quân mỗi tháng được khoảng 2 chiếc cũng là khá tốt rồi.Vậy nên trên thị trường xuất hiện hàng loạt ấm nghệ nhân giả, cái nào thật cái nào giả cũng chẳng thể nào xác định được

 

Ấm nghệ nhân tăng giá, xuất hiện hàng giả     

 

Trên thị trường xuất hiện hiện tượng ấm nghệ nhân thật giả lẫn lộn có mối liên hệ mật thiết với tình hình đấu giá ấm tử sa công khai, theo ông Lư Kiến Quân, những năm gần đây, giá của ấm nghệ nhân tăng vọt lên là điều ai cũng thấy, điều này giúp cho ấm nghệ nhân với số lượng ít ỏi được phủ lên mình lớp áo choàng thật giả khó mà nhận biết được .

 Trong đợt bán đấu giá Xuân 2010 tại Gia Đức Trung Quốc, chiếc ấm bầu đá do nghệ nhân chế tác được giao dịch với giá 12.320.000 NDT, phá vỡ kỷ lục của ấm Tử Sa Nghi Hưng

 Trong đợt bán đấu giá năm 2013, ấm Tử Sa lại trở thành điểm nóng tranh luận: Trong phiên giao dịch đêm đồ cổ Trung Quốc đợt đấu giá xuân lần thứ 8 Bảo Lợi, chiếc ấm bầu đá Hàn Đinh giao dịch với giá 14.950.000 NDT đã để cho ấm Tử Sa giành chiến thắng trong việc thu hút sự quan tâm của các nhà sưu tầm, điều này cũng thay đổi tình hình của ấm Tử Sa năm 2014.

 Ông Lư Kiến Quân cho hay năm ngoái một ấm Tử Sa do thợ trong xưởng có giá khoảng 350 NDT, hiện tại bán giá 400 NDT là chuyện bình thường, năm ngoái ẤmTử Sa nghệ nhân cấp thấp có giá khoảng 4000 NDT, theo như giá thị trường hiện nay là khoảng 5000 NDT, tăng khoảng 25%  , nếu nói dựa theo tình hình năm ngoái ấm nghệ nhân cấp quốc gia khoảng 100.000 NDT năm nay có thể được bán với giá 130.000-150.000 NDT, tăng khoảng 30-50%. Nếu hình dáng ấm độc đáo, một chiếc ấm tử sa có giá 200.000 NDT cũng không phải là cao.

 Từ đó không khó để thấy rằng, mỗi chiếc ấm Tử Sa đang ngày càng tăng giá, nhưng thu được lợi ích nhiều nhất trong tình hình này là ấm tử sa của các nghệ nhân chế tác.

 Ấm nghệ nhân được lợi nhất trong việc tăng giá này có quan hệ nhất định với số lượng các nghệ nhân. Ở Nghi Hưng Giang Tô, có mấy vạn nghệ nhân chế tác ấm Tử Sa, Hà Nam, Tứ Xuyên, Chiết Giang…cũng có người tham gia vào việc chế tác ấm Tử Sa, nhưng với những nghệ nhân mỹ thuật công nghệ cấp quốc gia cả nước cũng chưa đến 60 người.

 Nghệ nhân” ít mà quý”, vị thế của ấm nghệ nhân được nâng lên cũng là điều hiển nhiên, trong bối cảnh như vậy, làm giả ấm nghệ nhân chính là ý đồ mưu lợi của những người buôn bán ấm tử sa ở Trung Quốc .

Ông Lư Kiến Quân nói, hai năm trở lại đây, những chiếc ấm nghệ nhân giả qua tay ông giám định cũng có đến 6,7 cái, giá mua của nó chủ yếu là 10-20.000 NDT. Nhưng với những trường hợp thông thường, giá bán ấm tử sa nghệ nhân thật thường trên 50.000 NDT.
 

Nam Khánh (Dịch từ Mạng văn vật Trung Quốc)

Chỉnh sửa : Trà Thuần Việt – trathuanviet.com

Danh Trà Trung Hoa – Trà Xanh

Danh Trà Trung Hoa – Trà Xanh

 

Trung Quốc tính cả Đài Loan nữa thì có 16 tỉnh thành khu vực sản xuất trà. Từ hái trà lấy lá trà non nấu trà thành nước trà, đến chế biến bánh trà rồi tới pha cả lá trà là một quá trình dài được người Trung Quốc nghiên cứu vể trà, hoặc là vô tình đạt được hoặc là cố ý thay đổi, không ngừng phát hiện và đổi mới phương thức chế biến trà và công nghệ chế biến, cũng vì thế mà cho ra ngày càng nhiều mặt hàng hơn. Do phương pháp chế biến trà khác nhau nên mọi người thường phân chia trà Trung Quốc thành sáu loại lớn là: Trà xanh, Hồng trà, Trà ô Long, Bạch trà, Hoàng trà và Hắc trà, ngoài ra còn có trà hoa, khẩn áp trà (trà nén). Mỗi một loại đểu có danh trà làm đại diện, mỗi một danh trà đều có hương, vị, sắc, hình không thể thay thế. Hương, vị, sắc, hình đều đầy đủ thì là danh trà, phẩn lớn là sản phẩm có điều kiện tự nhiên tốt, giống cây trà ưu việt, phương pháp hái trà tinh tế và phương pháp gia công tinh xảo kết hợp lại.

TRÀ XANH

Trà xanh là loại trà cổ xưa nhất Trung Quốc, cũng là trà có sản lượng lớn nhất ở Trung Quốc, rất nhiều tỉnh đều nổi tiếng vì sản xuất trà xanh, trong đó nổi bật nhất là ba tỉnh Chiết Giang, Giang Tây, An Huy. Trà xanh là lá trà không lên men, có thể giữ được vị nguyên chất của trà ở hương vị thanh tao, đọng lại lâu dài khi uống thường có cảm giác thanh đạm, uống từng ngụm mới cảm thấy miệng thơm mát khiến người ta uổng một lần nhớ mãi. Phương pháp chế tạo trà xanh chủ yểu là “hấp xanh”, “sao xanh” và “phơỉ xanh” dùng ba phương pháp là hấp, sao, phơi để bỏ đi thành phần nước trong lá trà để đổi lấy vị thơm. Khi pha trà xanh không được dùng nước sôi mà nước ở nhiệt độ 80 – 90°c là thích hợp nhất có thể cho một ít nước nóng vào ngâm một chút rồi đổ đầy nước, thời gian đạy nắp chừng một hai phút là đủ, nếu không sẽ ảnh hưởng tới cảm giác của trà khi uống, cũng có thể rót một cốc nước sôi sau đó cho lá trà vào.

Tây Hồ Long Tỉnh

 

cận cảnh giếng rồng Long Tỉnh Giếng rồng  Long Tỉnh

 

Hàng Châu là một trong những thành phố đẹp nhất của Trung Quốc, từ thời cổ đại đã có danh hỉệu này. Tây Hồ là địa đỉểm đẹp nổi tiếng nhất của Hàng Châu, cũng là nguyên nhân quan trọng khiến Hàng Châu nổi danh bốn phương. Hàng Châu ba mặt là núi, từ thời nhà Đường, Thiên Trúc Tự và Linh Ẩn Tự gần Tây Hồ đã nổi tiếng vì sản xuất trà. Cái tên “Trà Long Tỉnh” bắt nguồn từ đời Tống, chủ yếu sản xuất từ năm địa điểm gần Tây Hồ, vớỉ các yếu tố、” sắc lục, hương nồng, vị ngọt, dáng đẹp”.

về Tây Hồ Long Tỉnh, có một truyền thuyết rất thú vị. Hoàng đế Càn Long đời Thanh (1736 -1795 tại vị) tới Giang Nam, đã từng tới khu vực Tây Hổ thưởng thức trà mới Long Tỉnh ở đây, thấy kĩ nghệ tuyệt vời của cô gái hái trà, Càn Long cũng không nén được mà học cách hái trà. Đúng lúc đó tùy tùng của Càn Long tới bên ông bẩm báo thái hậu bị bệnh, Càn Long tiện tay đút luôn trà vừa hái vào túi, rồi vội vã trở về Bắc Kinh. Thực ra bệnh của thái hậu không có gì đáng ngại, chỉ là ăn uống bị chướng bụng, tiêu hóa không tốt, thêm nữa là nhớ nhung con trai nên mới cảm thấy cơ thể không khỏe. Thấy con trai trở về rồi, bệnh của thái hậu cũng giảm đi một nửa, bà ngửi thấy trên người con trai có mùi thơm dịu nhẹ, liền hỏi là thứ gì, Càn Long liền lấy lá trà trong túi ra, và pha trà, mùi vị rất thơm, sau khi thái hậu uống vào thì bệnh hoàn toàn hồi phục. Càn Long rất vui mừng liền đặc biệt sắc phong cho 18 cây trà trước Long Tỉnh Tự ở Tây Hổ là “ngự trà”, Trà Long Tỉnh cũng từ đó mà nổi tiếng khắp nơi, trở thành loại trà ngon nổi tiếng Trung Quổc. Cũng bởi vì năm đó Càn Long mang lá trà về để trong tay áo nên bị ép thành hình phẳng, sau này Long Tỉnh Tây Hồ cũng bị chế tạo thành hình dáng đặc biệt. Năm 2005, Trung Quốc tổ chức hội đấu giá, “ngự trà” được đấu giá với giá khởi điểm là 80.000 nhân dân tệ cho 100 gam, sau cùng được bán với giá 145.600 nhân dân tệ cho 100 gam, còn quý hơn vàng.

 

vườn trà thông long tỉnh

 

Hái trà là công việc theo mùa, nông dân vùng trà nói “Háỉ sớm ba ngày là báu vật, hái muộn ba ngày biến thành cỏ”. Hái trà Long Tỉnh rất cầu kỳ. Thường là thời gian hái trà cả năm chỉ 190 đến 200 ngày, một cây trà một năm có thể hái 22 lần. Những ngày thời tiết nắng đẹp, sau khi hái lá trà xong chưa đầy ba ngày sẽ có mầm khác mọc lên, cho đến sau khi hái được tám, chín lần thì cây trà sẽ bước vào giai đoạn ngủ nghỉ. Đợi đến đầu hạ, sẽ bị đánh thức và mọc ngọn mới, có người gọi đó là “nhị trà”. Lá trà được hái thường là lá tươi không dài quá 2 cm, khi hái xuống chú ý không được háỉ lá rách, còn phải để lại lá sữa chưa mọc mầm. Người hái trà thường dùng haỉ tay, vừa hái vửa cho lá non vào trong giỏ.

Hái trà quyết định đẳng cấp của lá trà, trà Long Tỉnh chất lượng ngon nhất là “Minh tiền trà”, hái và gia công trước tiết thanh minh, sau tiết thanh minh, trước tiết Cốc vũ là “Vũ tiền trà” thì chất lượng kém hơn. Người ta dựa vào đặc điểm hình dạng của lá trà Long Tỉnh Tây Hồ để đặt tên cho nó: búp trà non được lựa chọn cấn thận tên là “Liên tâm”, một búp một lá gọi là “Kỳ thương”, một búp hai lá gọi là “Tước thiệt”. Sau khi pha trà, búp trà sẽ nở, đứng sừng sững như cây cờ, trên dưới lay động, sinh động, nước trà trong suổt, mùi vị thơm ngọt kéo dài.

Quá trình sao trà Long Tinh quyết định màu sắc, hình dạng và khẩu vị của nó. Trước đây sao trà thường dùng củi lửa hoặc than củi, cách canh lửa vô cùng quan trọng. Hiện nay, để tiện khống chế nhiệt độ người ta đã dùng chảo điện. Sao trà Long Tỉnh chia thành “thanh oa” và “huy oa”. “Thanh oa” tức là quá trình làm khô và tạo dáng bước đầu cho trà, mỗi chảo cho khoảng 120 gam lá tươi, nhiệt độ cao trước sau đó chỉnh nhiệt độ thấp, duy trì giữa 240 – 300°c, tay chủ yếu nắm và hất. Đợi lá búp mất một lượng nước nhất định thì tiến hành quá trình tạo hình bằng tay trộn, ép, hất, vung, lực ép từ nhẹ tới mạnh, đạt tới mục đích làm từ thẳng thành búp dài, ép dẹp thành hình. Sao khô khoảng bảy tám phần thì nhấc chảo lên, tổng cộng quá trình này mất khoảng 12 đến15 phút. Mục đích của “huy oa” là chỉnh hình thêm và sao khô, thông thường bốn phần lá trà ở giai đoạn “thanh oa” sẽ cho ra một phần lá ở giai đoạn “huy oa”, nhiệt độ khoảng 100°c, sao khoảng 20 – 25 phút, chủ yếu dùng tay nắm, xoa, ép, đảo, tay ép ngày càng mạnh. Sao trà là một việc vất vả, khi sao trà tay không được chạm xuống đáy chảo mà phải tiếp xúc với bề mặt của lá trà, nhiệt độ khoảng 60°c khi mới học sao trà thì tay bị bỏng là đỉều khó tránh khỏi, đợi khi sao đến một thời gian nhất định thì tay của người sao trà đã bị sưng phồng một lớp chai sạn dày cộm. Nghề sao trà thường là cha truyền con nối, kĩ thuật truyền từ đời này qua đời khác. Phương thức sao trà thay đổi theo từng loại trà, hàm lượng nước, nhiệt độ cao thấp của chảo về lực lớn nhỏ của tay, điều này cần phải động nãovà cần tích lũy kinh nghiệm không ngừng trong thực tiễn. Những người sao trà đời trước thường bắt đầu học từ năm mười mấy tuổi, bắt đầu là học từ cách nhóm lửa, trải qua hai mươi mấy năm cọ xát thì kĩ nghệ mới thành thục, có thể trở thành cao thủ sao trà xuất thần nhập hóa hay không còn phụ thuộc vào bẩm sinh và sự cần cù của mỗi người.

 

trà long tỉnh

 

Sao trà Long Tỉnh ở mỗi chảo với lượng ít, thời gian dài, một người sao trà giỏi thì mỗi ngày cũng chỉ sao được khoảng 1.000 gam trà khô. Hiện nay mặc dù đã phát minh ra phương pháp dùng cơ khí sao trà, nhưng trà khi sao xong dù bề ngoài màu sắc hay mùi vị đều không thể nào so được với vị ngon của trà sao bằng tay, do đó trà Long Tỉnh Tây Hồ thượng hạng đều được sao bằng tay.

Uống trà Long Tỉnh ngon nhất là dùng nước ở suối Hổ Bào ở Hàng Châu, nước suối này rỉ ra từ nham thạch, đá thạch anh, vị ngọt thanh, phân tử nước cao, mật độ phân bố rộng, hàm lượng canxicacbonat thấp. Dụng cụ pha trà thì dùng cốc thủy tinh trong suốt không hoa văn là tốt nhất, để tiện quan sát quá trình lá trà dãn nở trong nước. Tỉ lệ lá trà và nước khoảng 1:50, cho 1/4 nước vào cốc trà trước, sau đó cho lá trà vào ngâm ướt, để lá trà khô được dãn nở, đợi mùi thơm bắt đầu phát tán ra thì cho nước vào cốc, dùng sức mạnh của cổ tay để nhấc bình nước lên cao rổi đưa xuống tạo ra dòng nước khi rót, lặp lại động tác này 3 lần để lá trà chuyển động trong nước. Phương pháp pha trà “phượng hoàng gật đầu ba lần”  có thể khiến lá trà tiếp xúc hoàn toàn với nước,  ba lần gật đầu là hành lễ cúi chào với khách, với tư thế lịch sự thể hiện sự tôn trọng với khách và trà đạo. Trà Long Tỉnh có thể uống ba lần, vị của lần thứ hai là ngon nhất.

Hoàng Sơn Mao Phong

 

Trà Hoang Sơn Mao Phong

 

Hoàng Sơn thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc, từ xưa đã là một ngọn núi nổi tiếng, ở đó các đỉnh núi dày đặc, các đỉnh núi cao hơn mực nước biển 1.000 mét có đến 77 ngọn. Lịch sử sản xuất trà Hoàng Sơn có từ lâu đời, giữa thời nhà Minh đã rất nổi tiếng. Lúc đó, mọi người thích đến Hoàng Sơn ngắm kỳ quan biển mây độc đáo, khiến trà Hoàng Sơn được đặt tên  là “Hoàng Sơn Vân Vụ”. Trong trà Hoàng Sơn Mao Phong sắc màu xanh lục ánh màu vàng nhạt, lá thẳng, ngọn nhọn như đỉnh núi, vì thế mà có tên như vậy. Trong khu phong cảnh Hoàng Sơn cao 700 – 800 mét so với mực nước biển có đỉnh Đào Hoa, đỉnh Tử Vân, Vân Cốc Tự, Tùng Cốc Am, Điếu Kiều Am, Từ Quang Các, đều là khu sản xuất chính của trà Hoàng Sơn Mao Phong thượng hạng, với hình dạng giống lưỡi chim sẻ, sau khi pha nước thì nước trà trong veo, hơi ngả màu vàng nhạt vị tươi nồng, thuần hậu, pha năm sáu lần sau vẫn còn hương thơm. Dùng nước suối Hoàng Sơn pha trà Hoàng Sơn, nước trà để một đêm cũng không hề để lại vết tích trên cốc trà.

Bích La Xuân

Trà Bích La Xuân sinh trưởng ở núi Động Đình, huyện Ngô, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô, do đó còn có tên gọi “Động Đình Bích La Xuân” Nghĩa là :Mùi hương khiến người ta phải ngạc nhiên. Đặc điểm của Bích La Xuân là hương thơm nồng, do đó trong thời cổ đại bị dân chúng gọi là “Hách sát nhân hương” Hoàng đế Càn Long nhà Thanh khi tới Giang Nam, quan phủ ở đó dùng trà này đón tiếp Càn Long, Càn Long nâng cốc lên chưa uống nhưng đã ngửi thấy mùi thơm xộc vào mũi, uống một ngụm liền khen danh bất hư truyền, nhưng Càn Long chê tên trà không hay nên đổi thành “Bích La Xuân”  cho thơ mộng hơn. Trà Bích La Xuân có màu xanh lục, hình như con ốc biển, bốn phía có nhiều lông mao dày. Uống trà Bích La Xuân ngon nhất là dùng cốc thủy tinh, lá trà sau khi ngấm nước sẽ dần dần dãn nở, lúc nổi lúc chìm, lông trắng lộ ra giống như tuyết đang múa trong gió, vừa mang lại cho con người sự thưởng thức về xúc giác và vị giác, lại có cảm giác đẹp về mặt thị giác

Mông Đỉnh Cam Lộ

Khu vực Ba Thục (Tứ Xuyên) là nơi bắt đầu văn hóa trà Trung Quốc, rất nhiều loại trà ngon được sản xuất ở đây, trà Mông Đỉnh Cam Lộ chính là một trong số đó. Trà Mông Đỉnh Cam Lộ là một trong những loại trà nổi tiếng có lịch sử lâu đời nhất, từ đời Đường đã được coi là cống trà. Mông Sơn vắt qua hai huyện Nhã An, Danh Sơn của tỉnh Tử Xuyèn, năm đỉnh núi chụm lại với nhau như một đóa hoa sen, ở giữa là đỉnh núi cao nhất trên đỉnh núi có một miếng đấtt bằng, trà Mông Đỉnh Cam Lộ được trồng ở đó. Tương truyền thời Tây Hán (206TCN ) có một vị cao tăng là đại sư Cam Lộ, vì hạnh phúc của chúng sinh đã tự tay trồng cây trà trên đỉnh núi, cũng vì thế mà có tên là “Mông Đỉnh Cam Lộ”.

Vì có liên quan đến Phật giáo nên lai lịch của trà Mông Đỉnh Cam Lộ được coi là “tiên trà”.

Truyền thuyết kể rằng có một vị cao tăng bị ốm, trên đường đi gặp một vị sư già khuyên ông trước và sau tiết Xuân Phân, trong vòng ba ngày khi có sấm xuân thì hái nhiéu lá trà Mông Đình, ông ta nói hái được một lạng là có thể chữa được bệnh trên người ông. Vị cao tăng này làm theo như thế, khi hái được một lạng lá trà, bệnh trên người không chữa cũng khỏi, ngay cả dung mạo cũng trở nên trẻ hơn.

Vẻ ngoài của Mông Đỉnh Cam Lộ xoăn chặt nhiều lông, xanh non bóng bẩy, sau khi pha mùi thơm nồng, nước trà xanh trong, vị trà tươi mát ngọt hậu, nước trà thứ hai là ngon nhất .



Sưu tầm : Trà Thuần Việt

Mùa sen Tây Hồ 2014

Mùa sen Tây Hồ 2014

Mùa sen Tây Hồ 2014
Hương Vị Trà Việt

Hương Vị Trà Việt

” Người Việt có thưởng trà kẻ dưới, dâng trà người trên, nhưng thường là đãi trà, theo lý trà Việt, đâu cũng là đãi trà … “

Hương Vị Trà Việt

Hương Vị Trà Việt

Trà Quán

Trà Quán

Trà Quán

 

Trà quán có cái hay riêng của nó, các bạn ở Hà Nội chắc nhiều bạn nhớ quán trà vỉa hè đầu Lý Quốc Sư. Gần đấy có quán phở nổi tiếng, nhưng không liên quan gì đến quán trà này. Quán trà trước do một ông lão bán, sau này con cái cụ bán, nhưng phong cách vẫn vậy. Quán có nồi nước sôi mắt cua để làm nóng chén, ngày xưa không biết đó là sát trùng, rất sạch, chỉ biết rằng uống trà cần chén rất nóng. Có nhiều người nói người Việt ta không có Trà Đạo là chính xác, người Việt không gọi “trà đạo” mà là “trà lý” hay đúng hơn là “lý trà”, chỉ có mấy lão bốc phét vừa dốt vừa kệch mới gọi là trà đạo Việt. Võ con gà chọi không gọi là miếng mà là lối, mỗi thứ mỗi miếng, mỗi nghề, mỗi lối, mỗi lý. Đi xem gà chọi ở miền Bắc mà gọi con này miếng hay, như mấy sách báo kệch hay kể, thì tức là truyền cho người ta biết cái thông điệp: người nói là dân ngoại đạo.

Cái lý cơ bản nhất của trà mạn Việt Nam là bình đẳng, mình đã nói trên rồi, còm một cái lý nữa là giản dị. Kỹ thuật trà Việt Nam cao siêu, nhưng người ta khoe rất kín, che dấu đi những cái dễ nhận. Hai điểm đó mới đầu tưởng khác nhau, nhưng liên quan mật thiết với nhau. Vì bình đẳng, nên người ta không khoe giàu, sang, đẹp, quý, người nào cất tiếng khoe trình độ uống trà cũng là cũng là thiếu tinh tế, mà người ta khoe thành tích uống trà bằng những dấu vết tuy kín nhưng người biết không thể phủ nhận, người có không thể làm giả. Điểm thứ ba là tôn trọng người được mời, âu cũng là một thể hiện của bình đẳng và giản dị. Lý trà Việt Nam bao gồm từ bộ ấm chén, đến dịp uống, đến cách pha, đến cách mời, đến thứ tự người uống và dĩ nhiên có cái phần nho nhỏ là chọn trà và các động tác uống. Trà đạo Nhật trông rõ ràng động tác, nên dễ học và đánh giá, trà tầu là thứ khoe cao sang. Ở Việt Nam cũng có ấm trà vui của hàng xóm, có thưởng trà người dưới, có dâng trà người trên, nhưng khi uống đều tuân theo trà lý, và cơ bản của trà lý là bình đẳng và giản dị.
Đáng tiếc là thời Nguyễn, trà lý không được dân Kinh Thành Huế tôn sùng, lai căng trà tầu, làm mai một cách uống trà của dân Huế đổ vào Nam, và cũng là một điểm làm dân Bắc Hà không bao giờ tâm phục triều đình ngắn ngủi đó. Trà lý thời Nguyễn càng được phát triển ở Bắc Hà do đã hết cuộc chiến 200 năm, giao lưu văn hóa phát triển.
Hiếm có văn hóa nào thấm nhuần và phổ biến như trà lý, bất cứ người con trai Bắc Hà nào cũng biết giữ cái lý lớn nhất của Trà Việt, tức là không bao giờ có chén đầu chén cuối, hay là ai cũng có thủy có chung. Mình buồn cười, ở cái đất võ biền Đường Lâm, thanh niên pha trà rất ẩu, thế nhưng không quên lắc cái ấm, vẩy vòi để chan hòa.

Hương vị trà
Người Việt gọi trà xanh là trà tươi, còn ngày nay thương mại Thế Giới dùng trừ green tea để chỉ cách dùng trà Viễn Đông: Tầu, Nhật, Việt. Trà Ấn khác, sau được du nhập sang Âu, người Ấn coi trà là một công cụ tu đạo, không quan tâm nhiều đến hương vị, văn hóa, mà sao cháy đen chỉ giữ chất kích thích, nay được gọi là trà đen.
Điểm đặc biệt khác của trà Việt là nó chát và mang hương vị tự nhiên. Trà Tầu, Trà Nhật đều trồng, hái, sao, bằng những cách đặc biệt để loại bớt gần hết vị chát. Các thứ trà danh tiếng của Tầu Nhật về Việt chỉ để uống cho biết, không ai ưa.
Ví dụ, trà Nhật được trồng ở các sường núi lạnh, ẩm, ít nắng, hái rất non, , ngày nay người Nhật bắt nông dân phủ lưới che gần hết nắng và phun đậm nước liên tục, thứ chè cớm nắng đó dù chế biến công phu thế nào đối với người Việt cũng nhạt toẹt, mặc dù nồng độ chất kích thích lớn, nước thì loãng tếch như nước lã.
Trà Tầu cũng vậy, ví dụ Ô Long họ che nắng, bón phân, phun nước cho cọng trà dài ra mà rất non, hái cái cọng đến 5-7 lá dài đến 5-7 phân, rồi ủ, mục tiêu là trà hơi mục thối, hết chất tươi, hết chát, rồi lại sao tẩm nhiều để tẩy hết hương và ướp hương khác vào trà, rồi đúng nghĩa đen, tẩm thêm nước trà pha rồi vào cho lúc pha được nước. Vậy nên một cộng trà Ô Long mới cuộn được thành cục to tướng. Đưa Ô Long cho một cao nhân râu bạc Việt Nam thì sẽ được khen là được nước, nhưng nước đỏ quạch và vô vị !!!.
Còn Thiết Quan Âm thì chỉ còn hương, hương ướp thêm không phải hương trà, dùng cho phụ nữ biểu diễn nết na.
Người Việt lấy trà những mùa sương, nắng, chát, lấy non hơn (3 lá hay 1 tôm 2 lá) nhưng chát hơn, so với Tầu sao rất ít chỉ để khô trà, nắng thật to thì phơi cũng đủ, được thứ trà quý. Trà ngon Việt Nam là nước xanh tự nhiên chứ không đỏ như Tầu, không nhạt như trà Nhật, và rất chát nếu so với hai thứ đó. Nước trà Việt sánh hơn, và quan trọng hơn là có hương vị tự nhiên, dù có ướp hương khác đến đâu mà mất hương tự nhiên cũng vứt, ví như Lipton. Đặc trưng của vị trà Việt là ngọt có hậu, uống nuốt nước rồi nhưng vị ngọt đọng lại nơi cổ họng, nên người thiếu tế nhị khen trà mới “khà” một tiếng để báo cái vị ngọt đó. Dù là trà tươi hay trà mạn đều phải giữ cái lý đó. Thiếu cái đó thì các cụ bảo khác gì Lipton, cho các cụ uống Ô Long với trà Nhật thì đúng là …. đồ Lipton nhạt toẹt.
Trà Việt thường là sao cũng phải kết hợp với phơi, không ai ủ một chút trà còn ẩm, vì nó lên tạp vị. Thường loại trà ngon xen kẽ phơi và sao nhẹ vài lần. Trước chỉ có trà nhà nước bao cấp mới sao, chỉ dùng cho dân lấy hương, còn nước lấy từ trà khác.
Trà Việt Nam mà cho Tầu Nhật nó xài thì được vài giọt là nó nhổ toẹt, nó chê chát xít. Có lẽ ba cái thứ “hại ta” chỉ thứ cuối là tắt đèn đâu cũng xơi được.

Đồ trà

 

Ấm Tích

Ấm Tích

 

Trà lý Việt Nam có từ rất sớm. Thời cổ, người Việt pha trà xanh trong ấm to, nay con cháu là cái ấm tích ủ. Có thời ấm đồng được dùng nhiều để rót trà xanh. Trà xanh uống bát, không cần rót đều vì pha lâu, đã đủ lý thủy chung.
Từ thời Lý đã có đồ pha trà mạn, nhưng trà tươi pha ấm tích vẫn còn dùng ở các nhà quyền quý cho đến ngày nay. Ngay cả người tầu cũng sản xuất loại “ấm cô tiên”, vẽ cô gái áo quần dải lụa thướt tha bay lên, để bán sang Việt Nam.

Đồ trà Việt Nam cấu tạo màu sắc cũng như chạm trổ thường giản dị, chỉ có hình dáng kích thước phải tuân nghiêm ngặt mà thôi. Trong khi các chén rượu Việt Nam rất nhiều mầu và hình, thì bộ đồ trà thường làm bằng sành, loại đất nung rẻ nhất, không men. Những kỹ thuật làm ấm trà Việt Nam rất cao. Bộ ấm trà mạn cổ dân Việt hay dùng có loại sành đỏ “gan gà” hay được nhầm thành Mạnh Thần tầu, điểm khác biệt của Mạnh Thần bề ngoài là Mạnh Thần màu vàng, có mem, cao hơn chút. Còn ấm Việt Nam đỏ quạch và bẹp, vòi dài. Nắp ấm gan gà cũng nhô cao và chọc một lỗ gần giống dáng Mạnh Thần. Chuyện dân gian cũng nói đến việc đó, để chê bai người kệch.
Chuyện rằng, có ông bố vợ thích trà mạn, thường khoe có cái ấm Mạnh Thần, thường ngâm “Thứ nhất Thế Đức gan gà, Thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Một hôm ông con rể bực mình (chắc uống trà chưa dư nhưng tửu đã hậu), bảo, con cá với bố là cái ấm ấy con làm. Hai bố con cá nhau một hồi, ông bố đập ấm, thấy có cọng rơm làm cốt gắn quai, như ý ông con, đành chịu thua.
Cũng có loại ấm Việt nam làm giả Mạnh Thần, cao hơn, Như Mạnh thần thật, nhưng chất lượng kém xa.
Ấm gan gà đó được làm ở vùng gốm lừng danh thế giới Quảng Ninh, đồ gốm vùng này thời Lý Trần đã đi khắp thế giới. Loại ấm đặc sắc nhất là ấm hai vỏ, cách nhau một khoảng, dùng cách nhiệt. Ấm tuy dầy cộp nhưng nhẹ, ngoài chỉ âm ấm. Không men, nhưng đất nung gan gà cực mịn, đến mức không men mà bóng, có thế mới làm được hai lớp siêu mỏng. Loại gan gà ấn tượng nhất là ấm nhỏ tí, đắp hoa văn nổi (thạch sùng), mình đã được may mắn được chiêm ngưỡng một cái ở Lục Ngạn, ngày nay không thấy ai làm. Nhiều cái gan gà nung quá lửa hay ám khói có vệt đen trông ngộ ngộ. Cả bộ có đủ cả chén tống, chén quân và bình đựng trà. Ngày nay dân vùng này vẫn sản xuất để bán ấm gan gà, giá rẻ bèo. Trước đây là loại ấm chủ lực, thường được gọi là “gan gà”, rồi “gan gà Hải Phòng” vì miền đất đó sau về Hải Phòng, Hải Dương.
Sau này có loại ấm da lươn, chén da lươn nhưng lòng trắng hay lam, thành chén đứng, mấy năm trước vẫn là loại chén chính, gọi là “chén da lươn” luôn. Rồi có loại ấm sứ đen nhánh. Da lươn và đen thường là loại to, giá bình dân. Rồi có loại ấm Bát Tràng mem vẽ lam, rồi ngọc rạn, riêng loại ấm men ngọc rạn hình cầu dễ thể hiện “tuổi trà” nên được coi là đồ quý với dân “pro”, là thứ đồ đặc sản chỉ có ở Việt Nam. Bộ men vẽ lam đi kèm với điếu bát là bộ đồ phòng khách phổ biến nhất ở nhà khá giả sau này, cùng với khay trầu, ống vôi, ống nhổ. Các ấm màu sáng thường cao hơn, hình cầu hay cao chút. Một cái khác của ấm trà Việt nam là quanh vành miệng ấm thường có viền hơi lõm.
Ngoài ấm pha, trước đây không có bình nước nóng, còn có “siêu” đun. Siêu đun có cán như gáo, cũng có chỗ rót như gáo nhựa ngày nay, có một chố đất nung lồi lên như kim hỏa để dấn nhiệt chóng sủi, cũng gọi là “kim hỏa”.
Dù trà tươi hay trà mạn, bàn nước bao giờ cũng có thùng đổ bã trà, một công cụ không thể thiếu khi uống trà, vừa dùng xả điếu cầy, đôi khi nhổ trầu.
Dĩ nhiên, ngày xưa bộ đồ trà có thêm chú tiểu đồng, thường là cháu trưởng hay học trò yêu, đun nước rót trà, thường gọi là “thằng nhỏ”.
Ấm trà độc ẩm nhỏ tí không dùng thằng nhỏ, những bao giờ cũng đủ 4 chén. Người độc ẩm uống ấm bé nhưng không thiếu đồ đãi khách. Ấm độc ẩm thường là loại “gan gà” hai lớp, vì nó rất cách nhiệt nên ấm nhỏ không nguội nhanh. Thật ra thì gọi theo thời hiện đại thôi, chứ ngày xưa không có ấm độc ẩm chuyên dùng, mà chỉ là ấm to ấm bé. Uống ấm bé người ta còn tu, không rót ra chén, hưởng trọn hương trà.

Về ấm chén, đồ Việt Nam chỉ khác đồ tầu như vậy. Trà tầu không có lý thủy chung nên không có khái niệm bàn trà quây quần, mỗi người một chén có nắp, sang thì mỗi người một bàn uống riêng. Ô Long thì chén loe, kẻ sỹ uống mà không ngửa cổ mang tiếng ngạo mạn, Thiết Quan Âm thì chén nhỏ cao, phụ nữ dù nết na đến mấy uống cũng phải ngửa cổ để khoe của.
Để thỏa mãn tính bình đẳng, bộ đồ Việt Nam khác biệt với đồ tầu ở chén tống chén quân. Chén uống trà Việt Nam nhỏ xíu (bằng mắt con trâu), không nắp, chén tròn, uống ngửa cúi tùy tâm, lúc uống trà là lúc thoải mái tâm hồn. Bộ đồ trà Việt Nam trước đây bao giờ cũng có bốn chén, không bao giờ uống nhiều người một ấm, nếu trong sân trà thì tối đa 4 người riêng một bàn. Đĩa đựng chén có thể có nhưng đa phần không cần vì ngồi quây quần quanh bàn trà. Chén tống là đặc trưng khác biệt của bộ đồ trà Việt Nam, trà từ ấm pha rót ra chén quân, rót hết ấm, đủ lý thủy chung, rồi mới “chuyên” ra các chén mỗi người là chén quân. Vì chỉ riêng trà Việt có lý thủy chung, nên riêng trà Việt mới có chén tống.

Uống trà
Người Việt có thưởng trà kẻ dưới, dâng trà người trên, nhưng thường là đãi trà, theo lý trà Việt, đâu cũng là đãi trà, chỉ có cách nói lệch do nguyên nhân khác. Vua có thưởng bầy tôi chén trà, bầy tôi về khoe vua đãi trà thì vua mới vui. Cái lý trà của Việt Nam là bình đẳng, nên trừ “thằng nhỏ” có mời mà không uống, thì người chủ việc mời đều uống.
Khi uống trà, người Việt tỏ lý lớn nhất là thư thái, trog trạng thái minh mẫn nhất đó của con người, các thái độ tôn trọng nhau được thực hiện chặt chẽ và tế nhị nhất. Một điểm khác đặc biệt của trà Việt là bàn trà quây quần, nên mọi người cùng uống theo lẽ, cùng tỏ thái độ khen chê tế nhị.
Một thứ tự đặc biệt của người Việt là người mời trà bao giờ cũng uống trước, điều đó ở nước ngoài có thể mất đầu. Người mời trà nhấc chén, khách mới nhấc chén, nhưng khách lại đợi người mời trà uống trước, rồi mới uống. Người mời trà uống trước là thái độ tôn trọng nhất của ông thể hiện với khách, ông mời khách chân tình, rất Việt, chứ không khách sáo lễ nghi. Đồng thời, trà rót từ một chén tống như nhau, ông uống trước là tỏ thái độ “nếm trước” nếu vạn nhất có độc thủ, hay nếu không cũng là cách thể hiện “trà tôi thường dùng, tôi mời, chứ không phải loại trà cho”.
Khi uống trà, ai cũng phải tỏ ra thư thái từ từ, không có chút vẻ vội, nên mọi người đưa chén lên chậm rãi. Mỗi người cầm chén, khẽ gạt vào đĩa đựng hay thành khay để hết nước rỏ, rồi nhấc lên đưa mắt nhìn nhau để uống đúng thứ tự. Động tác gạt cũng làm chậm nhịp uống lại, làm họ không bối rối khi phải đợi bất ngờ, ví như người chủ uống trước mải nói hay phải trả lời ai.
Người uống trà đưa chén ngang mũi, tỏ ý biết thưởng hương trà, rồi nhấp ngụm nhỏ, tỏ ý xem xét vị trà. Ngụm này được nuốt rất điệu bộ: môi mím, mắt chăm chú như vô hồn, miệng ngậm để trà trôi khắp miệng từ từ qua rất cả các giác quan trong miệng, đến cổ họng trà đi qua chậm để biết hậu vị. Hậu vị là biểu hiện cao không thể thiếu của trà ngon, nên nhiều người thấy thế, xong nhịp uống liền “khà” một cái, báo cho chủ biết họng đã khe khé vì hậu vị, trà của ông ngon. Hết ngụm khởi động, người ta đưa mắt nhìn nhau, nhường nhau bình phẩm. Rồi mới uống chén trà từng ngụm nhỏ.

Khen trà là một lý quan trọng. Vì không như trà Tầu, trà Việt không bao hàm sang giầu quyền quý, nên khen trà ngon, hay, thơm… đều là không lịch. Người biết lý trà được đãi ấm trà ngon làm một câu đầy đủ “trà uống được” là chủ vui nhất, người ngắn gọi thì “được” là vui rồi. Không như Nhật Tầu, văn tốt chữ hay đem nịnh trà. Ở Việt, ai “nịnh trà” liền được chủ khách coi thường. Biếu trà cũng vậy, đem biếu mà bảo “có ấm trà ngon biếu ông”, là người ta cười cho. Từ “Trà ngon” chỉ dùng hướng dẫn vợ mua trà đãi khách. Khi ấm trà tàn, tình giao trà đã đậm như người thân, người ta mới nói đến chuyện thơm ngọt hơn kém, nhưng cũng chỉ ý nhịn thôi.

Rửa bộ đồ trà
Chuyện rằng, có cô con dâu đem ấm trà của bố chồng đi rửa, về sạch bóng, liền bị chửi một trận te tua. Ngày trước, bộ đồ trà được rửa rất sạch, vì lúc uống trà là lúc lòng mình trong sạch nhất, ít ra là hình thức. Thế nhưng, tuyệt đối không được rửa vài điểm. Đó là xung quanh miệng ấm (vành lõm nếu có), phần miệng vòi và dưới vòi, phần vỏ đối diện với vòi. Trà đóng lâu ngày thành “cao trà”, tuổi uống trà lâu năm liên tục thì “cao trà” đọng dầy hàng ly, khách trà nhìn thấy kinh nể, đó là thể hiện kín đáo.
Bộ “gan gà” và bộ men ngọc rạn đọng cao trà chắc nhất. Riêng gan gà không men, chất trà thấm vào ấm, nên nếu là ấm của cao nhân, rót nước sôi không, cũng có trà. Riêng đặc điểm này thì tầu chỉ có “Tử Sa”, tuy nhiên đồ Tử Sa dầy cộp nặng trịch, không nhẹ và càng không thể hai lớp như “gan gà”. Nhưng gan gà mầu sậm, cao trà và màu sành hòa nhau, khó nhìn, nên thường dùng làm ấm nhường nhật nói chuyện với tri kỷ. Còn men ngọc rạn, màu men này làm đồ khác đã quý, riêng làm ấm trà thì màu sáng của men làm trội cao trà, vết rạn làm cao trà bám chắc, dễ gây ấn tượng hơn.
Da lươn rất khó nhìn thấy cao trà, cũng khó bám, vì men bóng và nâu đồng màu với cao trà. Sứ hoa lam hoa văn nổi đậm và đẹp, trông sang, nhưng hai thứ này không được dân uống trà pờ-rồ ưa chuộng. Da lươn ý nhị, người được đãi trà thấy lòng chén trắng sạch bong, nhấc chén lên thăm trà mới thấy cao trà, khó nhìn lẫn vào màu vỏ chén, mới biết đã được cao nhân nhìn mắt xanh.

Pha trà

 

Người Xưa Pha Trà

Người Xưa Pha Trà

 

Cách pha trà Việt vẫn còn được dùng đến nay, đó là đảm bảo ấm, chén đều nóng.Trà đồng rủa sạch tinh ấm chén, đặt lên khay, giữa 4 người, và đun nước sôi già.  Đầu tiên là mở nắp ấm, đổ (gọi là chuyên đầy nước vào ấp rồi đóng lại, rồi lại chuyên đầy nước vào các chén. Tiếp theo, trà đồng đợi một chút, rồi đổ hết nước trong ấm, cho trà đong sẵn vào. Tiểu đồng rót tí nước đủ để ướt hết trà, rồi rót đổ đi, lượt nước này làm trà ngấm đều, mới ra được nước trà đủ hương vị, đổ cạn nước tráng trà rồi mới đổ đầy ấm pha trà. Khi ấm trà gần được, tiểu đồng mới đổ nước chén tống chén quấn đi, các chén này nóng rực, mới rót trà. Nhà sang hay ngoài quán còn có nồi nước sôi mắt cua liên tục để nhúng chén cho nóng.

Ngày xưa người Việt hay dùng hai loại bình, là bình tỳ bà (lọ) và bỉnh tỏi (nậm hay to gọi ngắn là bình). Hai loại bình này đã được xuất khẩu khắp thế giới thừ thời Lý-Trần. Bình tỳ bà hình bầu dục, miệng bé, còn bình tỏi như củ tỏi, cổ như dọc tỏi, bé mà cao. Có người nghiên cứu đồ cổ còn bảo đó là bình đực-cái, tớ chưa thấy sách cổ nào nói vậy. Bình thường đựng chất lỏng, lọ thường đựng đồ khô, trừ lọ nước của sỹ tử cho dễ đeo (lọ có vành miệng dễ buộc dây). Bình tỏi thường giá cao, nên dân thường ít dùng, thường lấy lọ đựng tất các thứ. Chè đựng trong lọ rất khô.
Loại bình nhỏ dễ cầm một tay được dùng để đựng trà khi uống. Người Việt cổ không đong trà cầu kỳ, mà “đong” chỉ là đổ ra tay, người pha trà chuyên nghiệp mắt không cần nhìn cũng biểu đủ thiếu, lọ thường nút là chuối khô. Riêng loại “gan gà” chuyên đựng trà có hai lớp, vào những ngày nóng quá, nó điều hòa nhiệt độ bên trong nên trà để lâu uống vẫn ngon, độ quánh của đất làm đồ này cho phép làm những vách rất mỏng mà chắc, nên thường được nặn những đồ khó như vậy, bình nhỏ dùng lúc pha có nắp gốm. Có rất nhiều bình lọ các dòng da lươn, men hoa lam, men ngọc rạn và một số ít men đen. Bình lọ có thể có nắp, nhưng để lâu thường chỉ nút lá chuối, hay ngoài lớp lá chuối lọ đậy thêm cái nắp chụp như chum. Một cái bình tỏi Lý-Trần men hoa lam được trung bầy ở Thổ Nhĩ Kỳ còn được truy gốc gác đến người vẽ, xưởng làm, cả tiểu sử người vẽ.
Ngày nay người ta vẫn tráng ấm chén, tráng trà, rồi có người cầu kỳ đổ nước xong đậy nắp rồi đổ nước nóng lên nắp, đồ trà đã đổi nhiều nhưng lý trà vẫn thế.

Ngày xưa dân đồng bằng mỗi nhà có một bể nước mưa, nhà giầu đến hàng chục khối, pha trà hàng mùa. Do nước giếng khơi đồng bằng nhiều sắt, pha trà tanh, tạp. Bên cạnh bể nước thường có bụi nhài, rửa gì tiện tay hắt nước ra. Buổi chưa sáng, các ông già ra lấy nhài, lúc nhài thơm nhất, rồi thả một bông vào ấm trà. Dân trung du thường có kiểu kiến trúc vườn khá đẹp, một cái vườn phụ hẹp ngay trước sân, trồng cây cảnh và cao, cau cân đối hai bên cao vút, chính giữa là một cây ngâu được tỉa hình cầu tròn vo. Ướp ngâu khá mất công, nhưng cầu kỳ nhất vẫn là ướp sen.

Trà thời nhà Nguyễn

 

Bộ đồ trà Huế xưa

Bộ đồ trà đông ẩm, kiểu Huế, vẽ phong cảnh sơn thủy, hiệu đề chữ Nhật.
Đồ sứ ký kiểu đời Tự Đức

 

Nhà Nguyễn uống trà khác với Bắc Hà, kém hơn nhiều bậc. Nhà Nguyễn không có khái niệm “thủy chung” trong trà lý, mà đó là cốt lõi của lý trà, nên Triều Đình Nguyễn không có lý trà. Dân quý tộc Huế thường mua ấm chén tầu và dùng trà tầu, có cải tiến đi chút là trà ướp sen, nhưng so với cách ướp sen thời Lê hay dân Tây Hồ vẫn làm thì kém xa.
3 loại bộ đồ trà mà nhà Nguyễn thường đặt về là “Thứ nhất Thế Đức gan gà, Thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Các loại ấm này phân to nhỏ khác nhau, đều có đĩa chén, khay thường làm lấy ở Việt Nam, kiểu ấm cao, chén to. Thật ra ba hiệu sứ này không lấy gì làm to chuyện bên tầu, và nay có vẻ thất truyền. Huế bây giờ sở hữu nhiềm món đồ cổ liên quan đến trà giá trị cao, nhưng không phải vì thế mà dân Huế biết uống trà từ cổ. So với gan gà duyên hải nhà ta, “Thế Đức gan gà” là màu nâu xỉn, ta đỏ sậm.  Thế Đức cũng có kiểu ấm độc ẩm hình vuông cao như ấm tích, vì không có hai lớp nên nó dễ tản nhiệt và làm như hình ấm tích cũng để trong giỏ bông như ấm tích ủ nhà ta.
Thật ra, nói thế, chứ loại phổ biến nhất vẫn là Mạnh Thần màu vàng, sáng sang hơn. Mọi người đều công nhận câu trên chỉ là vần, còn không rõ loại nào hơn về chất lượng.

Đồ trà tàu

 

Bộ đồ trà Huế xưa

Sưu tập ấm trà bằng đất nung đời Tự Đức

Dân sành trà bên Tàu không dùng gốm Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây như là loại đỉnh nhất. Bộ đồ trà họ ưa dùng nhất là “Tử Sa”, có màu nâu tím, cấu tạo như bộ đồ trà Việt Nam, nhưng không có chén tống và chén uống cũng to hơn. Tử Sa làm từ một loại đất đặc biệt, trong lòng ấm không tráng men, nên ấm “có tuổi” cũng đổ nước lã thành trà như gan gà ta. Triều Đình Huế phù phiếm không dùng loại đỉnh này. Nay Tử Sa vẫn là hàng đặc sản của Tàu. Tử Sa rất dày, ấm mỏng dễ tản nhiệt mà, trừ mỗi loại gan gà 2 lớp nằm ngoài quy luật. Nhiều người nhầm “Thế Đức gan gà” với Tử Sa, nhưng màu của chúng hoàn toàn khác nhau, Thế Đức nâu xỉn, còn Tử Sa nâu tím. Dĩ nhiên gan gà ta có 2 lớp bằng loại đất sét siêu mịn quánh, nên có cái dáng bẹp đặc trưng.
Cách uống bằng Tử Sa cũng là trà bàn như ta, chén cũng không có nắp, màu rất hợp với nước Ô Long.

Mình được anh Hùng Kều mời trà Ô Long, rượu Mao Đài hôm anh ấy mới nhận được bộ đồ Tử Sa. Bộ của anh ấy khay cũng làm bằng cùng loại gốm, nặng uỵch. Người ta pha xong, đậy nắp, trút nước nóng lên vỏ ấm, nước chảy xuống khay, có một cái lỗ chảy đi, có một cải tiến là cắm tuy-ô, không biết có phải của nhà phát minh Hùng Kều không (anh ấy cực kỳ thông minh). Anh Hùng rất sành đồ Tàu. Ngay cả câu “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm – Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (Cao Bá Quát), anh ấy cũng sang tận Bắc Kinh xin chữ treo. À, cái bộ Trung Văn Chi Tinh là chương trình đánh máy tiếng tầu đầu tiên ở Hà Nội, anh ấy cho mình năm 1996 và mình phát tán đầu tiên ở Hà Nội, một thời gian dài đó là công cụ duy nhất, đấy là phiên bản 2.0, các bạn mình trong Viện Hán Nôm còn đem đi cài suốt kiếm ăn .

Một thứ ấm hay được chuộng bên tầu là “Chu Sa”, thường ở ta là hiệu “Ngạc Phủ”, màu đỏ tươi, nhưng không lừng danh bằng Tử Sa. So với gan gà ta, Ngạc Phủ Chu Sa đỏ tươi sáng hơn, của ta tối. Nhiều ông buôn đồ cổ thường hay nhầm chúng là gan gà, tuy là gan gà tầu lại màu sậm hơn “Chu Sa” và dĩ nhiên không có ấm tầu nào 2 lớp, áo bông khoác ngoài làm gan gà ri nhà ta bẹp ra rất đặc biệt chứ không hình cầu như ấm tầu.

Thật ra gan gà ta rất giản dị, nó là loại ấm pha trà hay, nhưng chỉ quý về mặt trà, còn mặt bạc thì rẻ bèo, đến nay người ta vẫn sản xuất và đi bán đầy. Ngày xưa nặn một ấm gan gà, nhất là hoa văn nổi và hai lớp thì khó lắm, nhưng nay có máy. Loại đất đó thì miền duyên hải dùng cả triệu năm nữa không hết, nó chỉ là sét đồng bằng sông Thái Bình, ngày xưa phải kén sét sạch, chứ nay máy làm sạch bóng. Người xưa truyền lại là ấm quý, các ông ấy tưởng ấm quý là ấm đắt, đúng là lẫn hết cả lộn. Tuy nhiên, các loại ấm hiện nay thì màu sắc không được như cổ đại, rẻ quá nung ẩu chăng, mà làm ở linh tinh cũng nhiều chứ không phải chính thổ.

Thưởng Trà – Hãy thưởng thức trà theo cách của bạn

Thưởng Trà – Hãy thưởng thức trà theo cách của bạn

” Mà cái việc uống trà tươi thì chẳng thể dùng một cái chén hạt mít để mà uống được mà phải dùng bát lớn mới đã,làm ực một cái hết nhẵn mới sướng … “

Thưởng Trà – Hãy thưởng thức trà theo cách của bạn

Thưởng Trà – Hãy thưởng thức trà theo cách của bạn

Việt Nam chúng ta một đất nước mà Trà là một thứ khống thế thiếu, chúng ta gắn bó với trà từ khi sinh ra,trà đóng góp một phần quan trọng trong các sự kiện quan trọng trong cuộc đời mỗi con người Việt Nam .

Khi mới sinh ra bạn đã được mẹ tắm trong nước trà xanh để đỡ bị hăm, rồi bạn lớn lên bên chén trà của Bố của Ông, khi bạn lớn lên cưới vợ trà cũng góp mặt trong lễ cưới,rồi khi về với đất mẹ bạn cũng được ấp ủ trong trà .

Và với người Việt ta, khách đến nhà dù lạ hay quen thì chủ nhà cũng đon đả rót nước pha trà mời khách, chén trà là đầu câu chuyện là thể hiện sự mến khách của người Việt .

Thêm nữa cái chuyện uống trà, Thưởng Trà cũng có nhiều chuyện để mà bàn . Cách người Việt Nam uống trà Thưởng Trà cũng khác với các dân tộc khác các nền văn hóa khác . Chẳng có ở đất nước nào mà trà xanh hay trà tươi lại là thức uống phổ biến,dân dã thể hiện sự hào sảng của cả một dân tộc

Và cũng chưa có một dân tộc nào khác kể cả các dân tộc mà họ nâng nên văn hóa trà của họ lên thành “ĐẠO” như Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc  lại có được cách uống trà cầu kỳ,mà thanh nhã như cách làm và uống Trà Sen Tây Hồ của người Hà Nội . Và cũng không có nhiều dân tộc có được văn hóa trà phát triển sâu rộng như Việt Nam từ cách uống trà, trà cũ trong cung đình,cách uống trà tươi dân dã, và cách uống trà thưởng trà như hội trà ngũ hương của các văn nhân nho sĩ thời xưa .

Trở lại với việc thưởng thức trà của chúng ta ngày nay, chắc bạn đã tự từng hỏi cách thưởng trà của mình đã đúng đã chuẩn hay chưa ? và Thường Trà như thế nào mới là đúng cách ? mới là văn hóa ?

Câu trả lời  rất đơn giản : chẳng có cách nào là chuẩn cả và hãy thưởng thức trà theo cách của bạn .

Tại sao lại như thế ?  Hãy trở lại với nguồn gốc của trà,công dụng đích thực của trà : Giải Khát , giúp tỉnh táo và sau đó mới đến Thưởng Thức Trà

Dân tộc chúng ta là dân tộc biết đến trà sớm nhất trên thế giới, đến Khổng Tử triết gia vĩ đại của Trung Quốc đã phải nói : “… dân Bách-Việt chuyên  làm ruộng lúa mà ăn chứ không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước bằng lá cây hái trong rừng gọi là trà.” Vâng từ vài nghìn năm trước chúng ta đã biết đến trà tươi . Và mục đích lúc đó đơn giản chỉ là giải khát và tỉnh táo khi làm việc .

Mà cái việc uống trà tươi thì chẳng thể dùng một cái chén hạt mít để mà uống được mà phải dùng bát lớn mới đã,làm ực một cái hết nhẵn mới sướng . Thế mà có nhiều người có tí chữ trong đầu lại bảo thế là Ngưu ẩm hay Tượng ẩm gì đó ? Ừ thì ngưu ẩm nhưng với cái thời tiết nóng ẩm khó chịu như miền bắc khi khát khô cả cổ đưa cho bát trà xanh thì lúc ấy nho nhã đến mấy,thanh cao bao nhiêu cũng phải ực cái cho nó đã khát , lúc ấy lại đưa cho anh nho nhã cái chén hạt mít thì chắc ngồi mà khóc . Thế nên cái chuyện uống này nó do thời tiết quyết định,tất nhiên khi vấn đề đã khát đã giải quyết thì mới bàn được đến chuyện thưởng thức trà được .

Ấm tử sa  Ngưu ẩm chuyên dụng đây chăng ?

Ấm Ngưu ẩm chuyên dụng đây chăng ?

 

Cuộc sống mỗi ngày một khấm khá hơn nên cái nhu cầu thưởng thức trà cũng mỗi ngày một đi lên, cầu kỳ hơn . Nào thi Ấm Tử Sa uống trà nó mới ngon, chén sứ trấn cảnh đức nó mới đẹp , khay trà , bàn trà bằng gỗ quý …. Nhưng ngay cả trong chuyện thưởng thức trà cầu kỳ này cũng không có nhiều người trùng quan điểm với nhau, người thì thích ấm bé,chén bé . Có người thì thích ấm lớn chén miệng loe lớn uống nó mới thích . Thế nên 2 phe lại hay đấu đầu nhau trong cái chuyện uống thế nào là vừa đủ . Thôi thì ấm chén ai to bé kệ, bạn hãy cứ uống trà theo cách mà bạn thoải mái nhất, vì thưởng trà là dành cho chính bản thân bạn,là giây phút thư giãn cho chính bạn nên làm thế nào mà bản thân bạn thấy mãn nguyện đó mới là cách uống trà đúng nhất, chuẩn nhất .

Thôi trời nóng quá,tám chuyện thế đủ rồi , Tôi phải đi pha âu trà chanh hương nhài uống cho mát đây . Chúc cả nhà vui .

 

Trà Thuần Việt

Chén Tống là gì ? Sao nghe “Tàu” thế

Chén Tống là gì ? Sao nghe “Tàu” thế

” Chén tống là một trà cụ không thế thiếu được trên bàn trà, được sử dụng để làm đều trà trước khi rót ra các chén quân … “

Chén Tống là gì ? Sao nghe “Tàu” thế

Chén Tống là gì ? Sao nghe “Tàu” thế

Vâng ! Chén Tống một trà cụ không thể thiếu với người yêu trà và Vâng ! không phải ý tưởng của mấy anh ba tàu đâu ạ . Đây là một sản phẩm Thuần Việt 100% do người Việt sáng tạo ra .

Bộ đồ trà Huế xưa

Bộ đồ trà hạ ẩm, kiểu Bắc, vẽ phong cảnh sơn thủy, đề thơ chữ Hán.
Đồ sứ ký kiểu đời Tự Đức

 

Nếu các bạn đã đọc bài viết ” Tổng luận về các kiểu chén trà ” của Cụ Vương Hồng Sển thì sẽ thấy các bộ đồ trà ký kiểu thời nhà Nguyễn được làm từ những năm 1804 đã xuất hiện chén tống . Hình dạng của chén tống lúc bấy giờ thường giống các chén quân được đặt trên một đĩa dầm riêng chỉ khác về mặt kích thước mà thôi .

” 1 chén chứa để dùng trà, dầm trà, trước gọi “chén tướng” nay vì kiêng cữ đành đọc trại ra “chén tống”, và để riêng ra trên một đĩa dầm, cho thêm phân biệt (vua ngự cung nội). “  đây là lời giải thích ngắn về công dụng và tên gọi chén tống của Cụ Vương Hồng Sển .

Công dụng và cách sử dụng Chén Tống :

Chén tống là một trà cụ không thế thiếu được trên bàn trà, được sử dụng để làm đều trà trước khi rót ra các chén quân, ta rót trà từ ấm ra chén tống trước rồi mới rót từ chén tống ra chén quân,vì vậy khi rót trà cho khách thì không bị chén đậm chén nhạt nước . Chỉ đơn giản vậy thôi nhưng trước khi có chén tống người ta thường sử dụng các cách rót trà khác cũng có mục đích làm đều trà khi rót trà ra các chén quân cụ thể như cách :

” Hàn tín điểm quân ” : rót trà vào chén quân lần lượt điểm mỗi chén một chút trà cho đến khi đầy chén

” Quan Công Tuần Hành ” : đặt các chén quân thành một hàng sát cạnh nhau rồi rót trà từ ấm ra các chén bằng cách lướt nhanh dòng nước qua các chén trà, lướt qua lại vài lần cho đến khi các chén quân đầy trà .

Nhưng chén tống cũng có nhược điểm là làm cho trà nhanh bị nguội quá, nhất là và thời tiết mùa đông lạnh .

Chén Tống xưa và nay

Ngày xưa chén tống như trong bộ trà ký kiểu thời Nguyễn thì chỉ là chén tròn lớn hơn các chén quân nhưng đồng bộ về kiểu dáng,không có quai . Nếu bạn đã từng sử dụng qua loại chén tống kiểu cũ này thì sẽ thấy một nhược điểm rất lớn là khi rót trà ra các chén quân trà bị rớt ra rất nhiều . Tuy nhiên về mặt thẩm mỹ thì Tôi lại rất thích các chén tống kiểu này vì tính đồng bộ của cả bộ đồ trà, kiểu dáng trơn đơn giản nhưng rất đẹp .

Ngày nay chén tống đã được truyền bá đi nhiều nền văn hóa trà khác trên thế giới nhất là các nước Trung Hoa và Đài Loan nhưng ngay tại Việt Nam thì chén tống chỉ phổ biến trong giới chơi và sành trà, rất ít khi xuất hiện trong cuộc sống thường ngày .

Về hình dáng chén tống ngày nay cũng khác xưa rất nhiều và thường được sản xuất nhiều nhất tại trung quốc và đài loan nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên công dụng chỉ cải tiến để việc rót trà trở nên thuận tiện hơn,ít bị rớt nước hơn .

Đây là một số kiểu chén tống hiện nay được sử dụng phổ biến .

Chén Tống đất nung

Chén Tống đất nung

Chén tống thủy tinh

Chén tống thủy tinh

Chén Tống sứ xanh

Chén Tống sứ xanh

Chén tống sứ

Chén tống sứ

chén tống sứ trắng

chén tống sứ trắng

 

Về kinh nghiệm bản thân khi sử dụng chén tống thì thường là chọn loại có màu trắng sứ , hoặc trong suốt vì 2 loại này rất dễ ngắm màu nước trà . Ngược lại Tôi lại rất không thích những lại chén tống bằng đất nung vì không nhìn được màu nước trà,khó cọ rửa vì rất dễ bị bám cao trà .

Ngoài ra chén tống cũng có một tác dụng khác là để rót nước sôi vào rồi mới rót vào ấm khi pha trà mục đích là để giảm nhiệt độ nước đến mức thích hợp cho việc pha các dòng lục trà như Trà Tân Cương .

Nhiều người không thích sử dụng chén tống vì làm nguội nước trà nên họ sử dụng thêm một chiếc Ấm Tử Sa thứ 2 để làm tống,vì đất tử sa có khả năng giữ nhiệt lâu hơn và ấm có nắp nên không bị mất hương trà .

Đến đây chắc các bạn đã năm rõ được công năng và các loại chén tống, nếu bạn chưa có chén tống trong bộ đồ trà của mình thì hãy mua một chiếc và tận hưởng sự thú vị khi pha trà .

 

Trà Thuần Việt