Bộ đồ Trà Mai Tuyết

Bộ đồ TRÀ mai tuyết

Dầm Trà Đạp Tuyết Tầm Mai

 

 

Có tiếng gà gáy văng vẳng nơi xa. Lão Quy trở mình, khúc khắc ho, hé mắt nhìn qua cửa sổ. Trời vẫn còn tối lắm, chắc chỉ năm giờ là cùng. Nghĩ vậy nhưng lão vẫn thò chân quờ quạng tìm đôi dép Nhựt dưới nền. Lại ho lục khục.
- Trời còn tối thui mà đã sì sà sì sục, không cho ai được yên một bữa.
Tiếng cằn nhằn từ dưới nhà ngang vọng lại. Hình như lão Quy không nghe tiếng vợ càm ràm, hoặc giả đã quá nhàm, vẫn lệt xệt đôi dép, lê từ trong nhà ra chiếc bể cạn đựng nước mưa ở trước hiên. Rót nước vào chiếc siêu đồng xong, lão trở lại chiếc tràng kỷ đặt trên bộ ngựa cạnh chiếc giường của lão, gắp mấy hòn than trong chiếc bị lác, cho vào cái hỏa lò hình con cóc há miệng kế bên, thêm mấy cọng nhang bẻ vụn rồi quẹt diêm nhóm lò.
Ðặt chiếc siêu đồng lên hỏa lò vừa bén lửa, lão dón bộ đồ trà, lại lệt bệt đi ra bể nước trước hiên, tỷ mẩn kỳ cọ bộ đồ trà bằng sứ men lam. Lão làm công việc ấy một cách chăm chú, cẩn trọng, vừa rửa, vừa săm soi như thể muốn tìm ngọc ngà châu báu gắn nơi mấy món đồ sứ. Tới khi nghe tiếng nước réo trên hỏa lò, lão mới trở lại gian nhà trên, rửa vội chiếc ấm đất bằng nước nóng, cho trà vào để pha.
- Có bì mứt thằng Long mới biếu hôm qua, tui để trong tủ thờ đó. Lại tiếng vợ lão vọng lên từ nhà ngang.
Không một lời ừ hử, lão Quy tráng nước sôi qua mấy cái chén, đặt ngay ngắn trên dĩa bàn, đoạn chuyên trà ra chén tống. Vợ lão cũng đã trở dậy, mang đến một dĩa mứt gừng:
- Mứt đầu mùa, con vợ thằng Long làm để bán Tết, mang qua biếu ông thời thử. Long là hàng xóm sát nách nhà lão, thi thoảng cũng được góp mặt thưởng trà.
Trời sáng hẳn, đã nhìn rõ hình trang trí trên bộ đồ trà. Cả dầm, bàn, tống, tốt đều vẽ như nhau, hình một người đang đi trong bão tuyết, vai vác cành mai, bên cạnh có hai câu thơ chữ Hán: “Tuyết trung vị vấn điều canh sự. Tiên cú bách hoa đầu thượng khai”. Lão Quy nhìn như thôi miên vào bộ đồ trà mà lão nhớ nằm lòng từng nét vẽ, từng văn tự trên đó.

Ba chục năm trước, lão sang chữa bệnh cho ông cụ Lự bên kia phá Tam Giang. Ông cụ mắc bệnh đã hơn một tuần nhưng người nhà chủ quan, đến khi nguy kịch mới cho người sang mời lão. Cụ bị thương hàn, sau chuyển sưng gan. Lão phải đi đi về về, hốt thuốc ba, bốn lượt, ông cụ mới qua khỏi. Khi lành bệnh, cụ Lự sai người nhà sang biếu cho lão bộ đồ trà này. Lúc đầu, lão không dám nhận, nhưng khi nghe nói nếu lão từ chối, ông cụ sẽ sai người khiêng sang gặp lão để cảm tạ thì lão đâm hoảng, đành nhận lấy.
Lão nghe bảo cụ Lự có họ hàng với ông Ðặng Huy Trứ, quan Bình Chuẩn sứ dưới trào vua Tự Ðức. Sinh thời, quan Ðặng cho đặt làm nhiều đồ sứ bên Tàu về dâng tặng cho nhà thờ họ Ðặng bên làng Thanh Lương. Những đồ sứ ấy, mỗi thứ chỉ đặt một bộ, vẽ tích riêng, nhưng dưới đáy đều có hiệu đề chữ Hán viết thành vòng tròn, giống nhau ở 12 chữ đầu: Tự Ðức mậu thìn trung thu Ðặng quý từ đường tế khí…, riêng mấy chữ cuối, là tên điển tích vẽ trên món đồ, thì khác nhau. Ông cụ được thừa kế bộ đồ trà vẽ tích “Hàn Dũ đạp tuyết tầm mai”, trân quý hơn bảo ngọc, nay cảm ơn cứu mạng mà cho người mang biếu lang Quy.

Bộ đồ trà sống với lão ngót ba chục năm, không phải chỉ ở với mình lão mà cả với hai người bạn trà của lão là mệ Nho và ông Cử Tấn. “Trà tam tửu tứ”. Người xưa dạy vậy, nên bộ đồ trà chỉ có ba chén tốt, còn lại là một dĩa bàn, một chén tống và một dĩa dầm lót chén tống. Vậy là hoàn hảo.

Sau khi có bộ đồ trà, lão phải nhờ người sang tận Ðài Loan, tìm mua cho được chiếc ấm đất hiệu Mạnh thần để pha trà cho xứng hợp. Sáng, rơ trời là hai ông bạn vàng đã sang nhà lão thưởng trà. Khi thì họ mang sang hộp bánh, lúc khác thì bịch mè xửng hay gói mứt. Trà thì lão không bao giờ thiếu. Cả làng Hạ này không ai không biết nhà lang Quy dùng trà sành có hạng, nên khi hữu sự, cứ chọn trà ngon biếu lão thay tiền chữa bệnh. Lão cũng ưng cái kiểu trả công đó, trừ vợ lão và mấy đứa con. Ðám đàn bà trong nhà cho rằng lão lậm với thú uống trà và bộ đồ trà mai tuyết ấy. Lão bỏ ngoài tai hết thảy. Xem cái cách lão chọn trà, pha trà, chuyên nước… thì quả là lão lậm với trà thiệt. Nước pha trà của lão bao giờ cũng là nước mưa trữ sẵn. Trà của lão là thứ trà Thái chính tông, nước xanh như ngọc, hương dịu, uống xong dư vị ngọt tận cuống cổ. Không khi nào lão rót thẳng trà ra chén tốt mà phải rót qua chén tống, đợi một lát cho lóng cặn rồi mới chuyên sang chén tốt mời trà hữu. Cũng chẳng bao giờ lão dốc cạn ấm.
- Muốn trà ngon nước từ đầu đến cuối, chỉ được rót một nửa rồi phải châm nước mới vào. Châm nước hai lần thì thay trà mới. Lão giảng giải cho thằng cháu đích tôn, thường được sai hầu trà.
Những khi mệ Nho hay ông Cử Tấn se mình không sang chầu trà thì đã có thằng Long hàng xóm. Lão chỉ ới một tiếng là hắn vội vạch rào chui sang. Cái thằng, đường sá ngay thẳng không đi, cứ chui lòn cho khổ. Ðược cái hắn lòn hàng rào nhưng trong đời tịnh không lòn cúi ai.
Hắn cũng ưng góp mặt thường xuyên trong chầu trà sáng nhà lão, ngặt nỗi bộ đồ trà Huế chỉ có ba chén tốt, hắn là kẻ hậu sinh, chỉ được góp mặt khi mệ Nho hay Cử Tấn bỏ bữa. Buổi trà sáng đã trở thành một cái nếp trong nhà lão, đời lão, ngót ba chục năm nay. Cho đến chiều qua…

- Cho tôi hỏi đây có phải nhà cụ lang Quy?
Nghe tiếng người hỏi vọng ngoài ngõ, lão lật đật dớm chân khỏi phòng mạch thì người khách đã vào tới sân. Sau lúc sơ kiến, người khách cho biết ông ta là hậu duệ của quan Bình chuẩn sứ họ Ðặng, nghe nói nhà lang Quy có bộ đồ trà là di vật của cụ tổ nên tìm đến, trước là kết mối giao hảo, sau xin được diện kiến bộ đồ trà. Cũng qua lời ông Sinh, tên của người đàn ông, lão biết rằng những đồ sứ do quan Bình Chuẩn sứ đặt làm bên Tàu vào năm Mậu thìn trào vua Tự Ðức để dâng cho từ đường họ Ðặng, về sau tứ tán cả. Ông Sinh, cháu bốn đời của quan Ðặng, đi làm ăn tận Sài Gòn, đã bỏ gần 20 năm và phần lớn gia sản mới sưu tầm gần đủ những món đồ sứ cụ tổ đã đặt làm năm xưa. Chỉ còn sót bộ đồ trà mai tuyết này. Nhờ có người chỉ lối, ông Sinh tìm ra Huế, hỏi thăm nhà lang Quy, xin được mua lại bộ đồ trà ấy với bất kỳ giá nào.
Vừa nghe thủng câu chuyện của ông Sinh, lão Quy đã giãy nãy, kêu người tiễn khách. Người mô mà ăn nói khó nghe quá. Bộ đồ trà là một phần của đời lão, có trả tiền tấn cũng không được. Chưa kể tới chuyện lão sẽ ăn nói mần răng với mệ Nho, với Cử Tấn, với cả thằng Long khi họ qua dự chầu trà sáng.
Khách ra về cả buổi rồi nhưng lòng lão cứ rộn rộn, nao nao, đứng ngồi không yên. Nửa buổi chiều, lão treo tấm biển: Hết giờ khám bệnh. Rồi lão đi nằm, bỏ cả bữa tối.

Lão chuyên trà từ chén tống sang chén tốt, nhấp một ngụm rồi đặt chén trà xuống dĩa bàn, nét mặt đăm chiêu. Dĩa mứt bày trước mặt thơm ngào ngạt nhưng lão không hề rớ tay. Siêu nước trên hỏa lò đã cạn từ lâu lão cũng không để ý. Lòng lão rối bời: Người ta bỏ cả gia sản và tốn cả mấy chục năm trời để đi tìm di vật của tổ tiên. Thiệt đáng trân quý. Nhưng thiếu bộ đồ trà thì đời lão còn gì nữa.
Chợt lão nâng chén trà uống cạn, lại uống nốt phần trà trong chén tống, rồi đứng dậy dọn dẹp bộ đồ trà mang đi rửa. Rửa xong, lão lau khô từng món một. Xong, lão mở tủ thờ, lấy ra vuông lụa điều, đặt bộ đồ trà vào bên trong, gói gém một cách cẩn thận. Lão kêu thằng cháu nội mang giấy viết đến, rồi cắm cúi viết.

Làng Hạ, ngày 20 tháng Chạp.
Kính gửi ông Ðặng!
Người cầm thư này đến khách sạn cho ông là cháu nội của tui. Trong vuông vải điều cháu mang theo là bộ đồ trà mai tuyết. Tui đã may mắn được giữ gìn kỷ vật của dòng họ ông ngót ba chục năm. Nay đã tới hồi châu về Hợp Phố. Xin ông nhận lại cho và đừng băn khoăn đến chuyện tiền nong.
Kính chúc ông mạnh khỏe, an khang.
Lang Quy.

Lão bảo thằng cháu:
- Con đem lá thư này qua khách sạn Hương Giang, hỏi ông Ðặng Huy Sinh, trao cho ông cùng cái bọc vải điều này. Nhớ đi cẩn thận.
Thằng cháu đi rồi, lão ra trước sân, viết lên tấm bảng thông báo giờ khám bệnh:
Lang Quy vô Nam ăn Tết với con gái. Sau rằm nguyên tiêu mới trở lại khám bệnh. Mong quý vị thông cảm.
Ðoạn lão khép cổng và trở lại chiếc giường của lão. Cả đêm qua dường như lão không ngủ.

 

Trần Dức Anh Sơn

Sưu tầm : Trà Thuần Việt

Lời của tác giả : Ðặng Huy Trứ là một nhân tài, một nhà kinh bang tế thế, một danh nhân văn hóa lỗi lạc dưới triều Tự Ðức (1848 – 1883), nên cái cách ghi hiệu đề lên đồ sứ do ông ký kiểu cũng hết sức đặc biệt. Đó không phải là những hiệu đề bình thường như trên bao món đồ sứ khác mà là những tâm nguyện của ông đối với tổ tiên, đồng thời là những di ngôn mang tính giáo huấn cho các thế hệ con cháu họ Ðặng sau này.

Những món đồ sứ do Ðặng Huy Trứ ký kiểu, những điển tích và hiệu đề trên những món đồ sứ ấy không chỉ là đối tượng nghiên cứu của tôi, mà còn là niềm cảm hứng để tôi viết nên một truyện ngắn, tựa đề Bộ đồ trà mai tuyết.