Chè và lịch sử văn hóa Việt Nam

đồi chè phú thọ

Đồi chè ở Thanh sơn – Phú Thọ

 

 

1. Sự ra đời của nghề làm vườn và nguồn gốc cây chè

 

Ngày nay chúng ta đã có đủ khôn lớn để không đến nỗi coi mọi thứ ở Việt Nam đều là nhất. Cái gì có thì cũng đều là sớm nhất, cái gì đáng kể thì cũng đều là vĩ đại nhất. Nhưng có một nghề, nghề thuỷ tổ của cây chè, đó là nghề làm vườn, thì không phải chúng ta tự nói nó ra đời đầu tiên ở Việt Nam, mà hầu như tất cả các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về vấn đề này đều thừa nhận như vậy. Nghề ấy đã ra đời trên lãnh thổ Việt Nam, trong phạm vi văn hoá Hoà Bình ít nhất là hơn 10.000 năm về trước.

Tất nhiên là nền kinh tế vườn nguyên thuỷ ấy không nhắm ngay vào những loại “hàng tiêu dùng xa xỉ” như chè, cà phê, v.v…, mà nó nhắm vào các loại cây cỏ thiết thân với đời sống, đó là những loại câỵ lương thực và thực phẩm như củ mài, khoai nước, bầu bí, trám, mận đào bàng, v.v… Nhưng cây lúa, có lẽ cũng giống như chè, thì lúc đầu loài người chưa biết tới để khai thác. Tuy nhiên, theo Viện sĩ Varilop thì có thể những rừng chè cùng những rừng quế, hồi, mỡ tự nhiên đã xuất hiện cách ngày nay khoảng 10-15 triệu năm vào giai đoan Mio – Plioxen thuộc kỷ Đệ tam ở khu vực này. Đến kỷ Đệ tứ, vào cuối Pleistocene, đầu Holocene, các cuộc khai quật khảo cổ học những hang động thuộc văn hoá Hoà Bình đã trình ra một bộ mặt nông nghiệp làm vườn tạp canh khai gồm những loại cây ăn qủa như Bầu Lo (Lagenaria), Dưa chuột (Cucumis); lấy quả và hạt như: Đậu nành (Glycine), đậu Hà Lan (Pisum); Những cây ăn hạt như: củ ấu (Trapa), kê (Setaria), ý dĩ hay bo bo (Coix lachryma Jobi) và cả lúa (Oriza Sativa)… còn một loại cây nữa mà hiện nay cư dân Đông Nam á và Châu Đại Dương đang trồng phổ biến, trong quá khứ đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, loại cây sinh sản vô tính, có củ thuộc các giống cây “taro” (Colocasia) như khoai nước, khoai môn, khoai sọ hay “Yam” (Dioscorea) như củ khoai vạc, củ cải (Dioscarea alata) và củ từ (Dioscorea esoulenta),

Danh mục thống kê trên dễ dàng cho chúng ta một cái nhìn khéo là lệch về phía “chủ nghĩa lương thực và thực phẩm” trong lịch sử phát triển văn hoá của loài người. Dường như những kết quả được trình ra đó còn cho thấy sự khiếm khuyết của môn nghiên cứu tiền sử trong giai đoạn khủng hoảng lương thực và thực phẩm hiện nay mà tiếng vọng của cái đói của đa số các nước á – Phi luôn ám ảnh tất cả các nhà khoa học, dù là những ngành chẳng mấy liên quan. Bao giờ thì các nhà tiền sử mới có một cái nhìn tổng quát hơn và sâu xa hơn vào nhiều lĩnh vực của tiến hoá xã hội? Bao giờ thì kỹ nghệ giải khát được nhìn nhận từ góc độ ấy?

Ngay hiện nay, nếu ai đó đã từng qua những xóm làng miền Trung, để ý tới cách nấu chè xanh đây thì bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên và tự hỏi: Tại sao lại nấu cả những cành chè, chứ không phải chỉ là lá chè như cách uống ở ngoài miền Bắc? Hiếm chè ư? Họ tiết kiệm ư? Cũng có thể. Nhưng không chỉ là như vậy. Như chúng ta đều biết, miền Trung về phương diện dân tộc học là nơi bảo tồn rất nhiều nét sinh hoạt cổ sơ của người Việt, từ ăn mặc, phong tục tập quán tới, ngôn ngữ, v.v… Cách uống chè xanh của họ là chi tiết phản ánh một nếp sống xa xưa, từ thời con người còn sống bằng phương thức khai thác tự nhiên, mà tiền sử học gọi là nền kinh tế hái lượm phổ tạp. Người nguyên thuỷ lang thang hái lượm trong rừng, không có các loại đồ đựng, các vật dụng chuyên chở tiện lợi như bây giờ, họ bẻ cả những cành nhánh của các thứ có thể dùng để ăn uống và cứ thế đem về nơi cư trú. Tất nhiên khi về đến nơi cư trú họ phải khai thác triệt để những thứ đó.

Cách thức uống chè như trên cho chúng ta thấy một điều là ở rừng núi chúng ta thực sự có chè hoang và sau đó con người đã dần dần thuần hoá chúng. Hiện nay chè hoang vẫn còn nhiều trong các vùng rừng núi khắp cả nước. Ai đã từng sống ở Trường Sơn trong những năm đánh Mỹ chắc chắn đã hơn một lần thưởng thứ hương rừng đó. khác nào như một lần hồi cố tổ tiên.

Còn một cách nấu chè kiểu khác cũng khá phổ biến, và chắc chắn là rất nguyên thuỷ, đó là cách om, ủ lá chè xanh bằng nước sôi ở vùng trung du Vĩnh Phú có một thứ lá chẳng bao giờ được thuần hoá nhưng lại được nhân dân ủ uống rất nhiều. Đó là Vàng La, mọc đầy trên các vùng đồi. Người ta bẻ cành Vàng La bánh tẻ (không non quá, không già quá) về xếp đống vào thúng mủng cho lên men, rồi sau đó dùng nấu nước uống. Loại nước này thơm thơm, hăng hắc, ngòn ngọt, chan chát, dùng để uống vào mùa hè thật là thú vị. Nước lá vối cũng được nấu tương tự như vậy hoặc bằng cách phơi khô rồi đem đun. Tất cả những loại nước lá như vậy đều được nấu cả cành. Uống bằng lá khô hoặc uống bằng lá ủ lên men đều là những cách uống rất nguyên thuỷ.

 

2. Các đồi chè , những đồng bằng và những nền văn hoá nguyên thuỷ

 

Cái cảm giác hùng vĩ do những dải đồi núi trùng điệp gối nhau như sóng cuộn miên man về phía chân trời suốt một vành đai rộng lớn từ vùng trung du tới tây bắc, sang đông bắc – địa bàn trồng chè chủ yếu của nước ta – sẽ trở nên bằng phẳng thậm chí tẻ nhạt đến hoang vu nếu như chúng ta đứng trên các đỉnh đồi núi kia và hình dung đang ở đó vào thời điểm những vạn năm, những chục vạn năm về trước. Hồi ấy các đồi gò trùng điệp bây giờ chỉ là những vùng đồng cỏ cổ, mênh mông, mà ngaỳ nay người ta gọi chúng là những thềm bậc I, II, lll v.v… của những dòng sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông cầu v.v… Thế mà hồi đó, trên những vùng đồng bằng cổ sơ ấy đã có những đoàn người lang thang theo những rừng cây, bãi bồi, các thềm sông kiếm sống rồi bỏ lại những dấu tích của mình – những vật chứng đã gây nên một cuộc tranh cãi “nảy lửa” trong số các nhà tiền sử học Việt Nam từ sau việc phát hiện ra những cái gọi là “công cụ đá cuội Sơn Vi” trên các đồi chè Vĩnh Phú, mà những người phản bác thì gọi nó một cách mỉa mai là “nền văn hoá trồng chè, cuốc sắn”. Bằng tên đó các nhà khảo cổ này muốn nói rằng cái mà người ta gọi là “các công cụ cuội của văn hoá Sơn Vi” chỉ là cái tên “cuội”.

Họ cho rằng đó đâu phải là công cụ của người nguyên thuỷ bỏ lại từ hơn 2 vạn năm trước. Đó chỉ là những hòn đá cuội bị vỡ do người hiện đại trồng chè, cuốc sắn gây ra. ấy thế mà chẳng có một nông dân cuốc sắn nào được mời đến làm chứng cho những cuộc cãi vã đơn phương của các nhà khoa học. Khi các nhà bác học bắt đầu cất tiếng tranh cãi thì cũng là lúc có một cô bé, ở một nông trường trồng chè Vĩnh Phú, cất tiếng khóc chào đời. Và chớ trêu thay 21 năm sau, vào năm 1989 cô ta bảo vệ thành công luận án tốt nghiệp đại học chứng minh rằng trên các vườn đồi chè Vĩnh Phú đã từng tồn tại nền văn hoá công cụ cuội Sơn Vi thực sự, rằng những hòn đá cuội có mũi nhọn, có cạnh sắc nằm ở các nương sắn, nương chè chính là những công cụ của người nguyên thuỷ bỏ lại ,chứ không phải là những mảnh vỡ bởi các nhát cuốc hiện đại. Vào thời kỳ đó, những gờ đất cao ven đồng bằng châu thổ, những bậc thềm sông màu mỡ và thoáng đãng đã tạo cho con người một địa thế để dung hòa được cảnh quan cả ở phía trước là biển cả, và phía sau là những dãy núi cao (hiện tại) tạo cho họ có một cuộc sống tổng hợp: hái lượm, săn bắt ở rừng, và mò cua, bắt ốc, bắt cá ở phía trước (nền kinh tế sông biển). Niên đại các di tích văn hoá thời kỳ này được các nhà địa chất xếp tương ứng với thềm bậc II của sông Hồng và sông Mêcông. Trong đó các thềm sông nối tiếp có thể coi là dải vành đai thềm bậc, gồm cả những đồi gò ban bình nguyên cổ. Trong lưu vực sông Hồng dải vành đai thềm bậc II kéo dài suốt từ Bắc Giang qua nam Thái Nguyên, Vĩnh Phú, đến Sơn Tây và Hà Tây, Hoà Bình, giữa các dải đồi bán bình nguyên cổ thuộc hai khu vực Đông Bắc và Tây Bắc. Trên suốt các thềm bậc phù sa cổ này chúng ta đã phát hiện được nhiều di khảo cổ học có niên đại đá cũ. Trong số đó điển hình nhất là những phát hiện về văn hoá Sơn Vi, một văn hoá đá cuội phân bố rộng rãi từ Nghệ An cho tới Hoàng Liên Sơn, từ Hà Bắc qua Thái Nguyên, Vĩnh Phú cho tới Hà Tây, Hoà Bình. Gần như toàn bộ các di tích thuộc văn hoá Sơn Vi đều phân bố trên các vùng đồi hiện nay trồng sắn và chè. Đó là những thềm phù xa cổ nay đã bạc màu bị Latent hoá, bị rửa trôi và bị khai thác qua hàng ngàn năm con người canh tác ở đó. Khi phân tích những phức hệ bào tử phấn hoa trong trầm tích ở đồng bằng Bắc Bộ, tổng hợp trên 100 mẫu người ta thấy rằng thềm bậc II thuộc văn hoá Sơn Vi cổ hơn thềm bậc I văn hoá Phùng Nguyên thuộc thời đại đồ đồng (đều ở Vĩnh Phú). Ranh giới của bậc thềm I là 11.000 – 12.000 năm và ranh giới trên của tầng trầm tích là 4.500 năm. Có thể nói rằng tuổi của phức hệ bào tử phấn hoa thềm I chắc chắn là Hoiocen (Q4). Còn tuổi phấn hoa ranh giới trên 12.000 năm được coi là thuộc phức hệ phấn hoa Pleistocen. Trong các phức hệ phấn hoa này, cũng như đối với nhiều thứ cây hiện đại khác, người ta chưa tìm thấy bào tử phấn hoa của chè. Cũng có thể người ta chưa chú ý tìm nó. Cái gọi là “chiến lược lương thực” thường nổi lên ầm ĩ đôi khi cũng làm cho các nhà khoa học quên mất rằng trên đời này còn có bao nhiêu thứ “chiến lược” khác nữa, mà chính họ phải góp phần định hướng cho xã hội.

Nếu như trong thời đại nô lệ – lúc mà ngành thuần hoá và sản xuất chè ra đời ở những quốc gia xung quanh chúng ta được sử liệu ghi lại, cha ông chúng ta chưa có một định hướng riêng và trồng chè, thì có lẽ ít nhất họ cũng đã khai thác chè xanh sẵn có tự nhiên từ bao lâu rồi. Trong dân gian, ngoài để uống, người ta còn coi chè xanh như một thứ nước trị bệnh, người ta còn dùng nước chè xanh để rửa ráy các vết thương, những chỗ lở loét, nhiễm trùng trên cơ thể. Vì thế chè không chỉ có tên trong danh mục giải khát, mà còn có tên trong các từ điển y học, dược học.

Các nạn nhân bom nguyên tử ở Hirosima đến sống ở những vùng trồng chè xanh đã sống, mà lại còn sống mạnh khoẻ nữa. Vì vậỵ người Nhật đã khẳng định chè cứu người ta khỏi những hậu quả do nhiễm xạ và gọi đó là thứ đồ uống của thời đại nguyên tử. Hai nhà nghiên cứu người Nhật là Teji Usi và Enji Hayasi ở trường đại học Kiôtô cho rằng chè chống được Stronti 90. Chất này xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp hay cùng với thức ăn, thấm vào máu gây nên bệnh ung thư máu hoặc các dạng ung thư khác. Trước kia người ta vẫn nghĩ rằng Tanin trong chè có tác dụng trung hoà các chất đồng vị phóng xạ, nhưng một giáo sư Liên Xô, ông Gorodeski đã lấy Catesin (giống Vitamin P) của chè điều trị một đàn chuột đã bị nhiễm phóng xạ. Sau đó đàn chuột này sống và đàn chuột  không được điều trị thì chết hết. Catesin còn có tác dụng mạnh hơn khi kèm với vitamin c,mà chất này trong chè tươi nhiều gấp 4 lần trong chanh, cam, còn vitamin p thì chè có nhiều nhất. Trong chè có tới hơn 130 chất khác nữa, nếu đứng riêng thì không mấy giá trị, nhưng khi hợp lại thì tác dụng rất lớn.

Có lẽ ngay từ thời cổ đại những người phương đông đã nhận ra chân giá trị của cây chè. Một trong những bằng chứng khảo cổ học không thể chối cãi, chứng minh cho giá trị của nó, đó là ở vùng Tây Nam Trung Quốc, ở thời cổ đại cùng khung cảnh văn hoá với chúng ta, đã dùng lá chè làm vật trao đổi ngang giá, có nghĩa là làm tiền, ở đây nó đã được dùng cùng với một ít thứ quí hiếm khác nữa ở chức năng tiền tệ, đó là loại ốc xà cừ biển (parcelaine). Trong một ngôi mộ thuộc một chủ nhân giàu có người ta đã phát hiện ra những xâu tiền lá chè ! Bên cạnh đó, với người cổ đại trà còn là thứ thuốc tiên, thứ thuốc của thần phật, giúp người ta khi uống vào thì sảng khoái, tỉnh táo, ngõ hầu đi tới được con đường giác ngộ của Phật. Vì vậy mà uống trà đã được nâng lên thành đạo, thành một thứ tín ngưỡng, mà hơn cả một quan niệm nghệ thuật, mà là một quan niệm triết học về vũ trụ và nhân sinh quan tác trà.

Chung qui lại trà không chỉ là một thứ thực phẩm, một thứ dược phẩm mà còn là một quan niệm sống, một thành tố văn hoá của nhiều dân tôc phương đông trong đó có Việt Nam.

 

 

TS.HÀ HỮU NGA

Viện  Khảo cổ  học Việt  Nam

Giới thiệu : Trà Thuần Việt