Chuyến du hành hơn 4000 năm của cây chè ( Phần 1 )

cây chè cổ thụ

Cây chè cổ thụ

 

 

“Quê hương của cây chè” hoặc nói theo các nhà chuyên môn thì “nguyên sản” xa xưa của cây chè ở đâu ? Đó là một vấn đề khoa học và đồng thời là một vấn đề kinh tế rất lớn. Xét nguồn gốc nguyên sản của một cây trồng thường có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực dẫn giống nhập giống vào một nơi mới, đồng thời còn có ý nghĩa về lịch sử văn minh, văn hoá, ngôn ngữ của một dân tộc. Cây chè từ xưa đến nay vẫn được coi là một trong những căn cứ khoa học để xác định trung tâm của nguồn gốc cây trồng, để phản ánh nền văn minh của loài người.

Carl von Linne, nhà thiên nhiên học Thuỵ Điển nổi tiếng về những công trình thực vật học từ hơn hai thế kỷ nay đã đặt tên khoa học cho cây chè là Thea sinensis có nghĩa là,chè Trung Quốc. Vấn đề đến đây tưởng như đã được dứt điểm nhưng thực ra mới chỉ bắt đầu, vì cũng có ý kiến cho rằng còn có cây chè Ấn Độ, nguyên sản cây chè ngày nay là ở vùng At Sam.

Theo Lucien guiot (1964) các nơi mọc tự nhiên của cây chè (thea sinensis) ở vào các vùng núi miền tây nam Trung Quốc và bán đảo Đông Dương (Việt Nam, Lào, Thái lan, Bắc Miến Điện).

Khi đặt tên cho cây chè, chắc Linne không ngờ là đã khơi ngòi cho một cuộc tranh cãi diễn ra gần 200 năm.

 

Từ cây chè nguyên thuỷ được phát hiện ra từ 4-5 nghìn năm trước đây, chè được nhân lên và nhân lên mãi để đem đi trồng trên gần khắp thế giới

 

Chè là một loài cây có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất. Nhà thực vât học Thuỵ Sĩ Candolle (1788-1881) đã xếp chè vào loại A tức là đã được trồng trên 400 năm. Nhưng chè phát triển không nhanh lắm so với một vài cây khác, thuốc lá chẳng hạn. Nếu như đầu thế kỷ thứ 16 ở Châu Âu mới chỉ có một số thuỷ thủ, con buôn và thực dân Tây Ban Nha thường qua lại châu Mỹ biết hút thuốc lá, và phải mua thuốc của người da đỏ để hút, thỉ tới thế kỷ 17 toàn Châu Âu, đã trồng được thuốc lá để hút. Cũng vì thế người Mỹ đã đặt cho việc hút thuốc lá ngày nay là “bệnh dịch hạch của thế kỷ 20 “

Theo truyền thuyết rất cổ xưa, chè được dùng từ lâu ở Việt Nam (Đông Dương), Trung Quốc, nhưng bước lan truyền của cây chè không nhanh như cây thuốc lá. Hơn hai nghìn năm sau chè mới từ Trung Quốc sang được tới nước láng giềng phía đông cho nên ở Nhật Bản phải 729 năm sau công nguyên mới thấy sử sách nói đến chè. Thực ra từ mấy thế kỷ trước, nước Nhật Bản đã nhập chè Trung quốc, lúc đó có lẽ chè là một trong những mặt hàng quý giá nhất vì nước Nhật chưa trồng được chè.

Đẩu thế kỷ thứ 9, ở Nhật bản người ta thấy bắt đầu có sự cố gắng thoát khỏi sự lệ thuộc vào nước ngoài và chè lấy giống từ Trung Quốc về được trồng thử ở vùng Kyoto vào những năm 805-810. Chè mọc rất tốt ở đây, nước rất đậm, nhưng sản lượng chưa được là bao nhiêu, nên chè vẫn là của hiếm, chỉ nhà vua mới có khả năng dùng. Thêm nữa thì may chăng đến các tầng lớp quý tộc trong Triều đình, và một số nhà sư cấp cao cùng uống chè để giữ tỉnh táo trong khi tụng kinh.

ít lâu sau, Nhật Hoàng Saga, rất thích tập quán uống chè đã ra lệnh dùng chè phổ biến trong cả nước, cả nước Nhật Bản phải uống chè, đó là bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử của sự tích cây chè ở Nhật Bản.

Tới thế kỷ 14, xuất hiện một kiểu tiêu khiển độc đáo ở Nhật Bản gọi là “Ta-Cha” thực ra là một cuộc thi nếm nước chè, một trò chơi rất thanh tao và thú vị, nhưng cũng khá khó. Người tham gia phải nếm nhiều loại chè đưa từ nhiều nơi đến để chọn ra loại nào ngon nhất ai chọn đúng thì được giải. Trò chơi này phát triển rất nhanh, do đó việc trồng chè càng được mở rộng ở Nhật Bản.

Chè cũng được trồng ở Triều Tiên tương đối sớm, ngay năm 828, tuy vậy so với Trung Quốc thì cũng đã chậm hơn gần 500 năm (có tài liệu nói ở Trung Quốc chè bắt đầu được trồng 330 năm sau công nguyên).

Tiếp đó sau một thời gian đình đốn kéo dài 1000 năm, phong trào trồng chè mới lại bùng lên được. Lần này không phải chỉ ở châu Á mà cả châu Âu và châu Phi nữa.

Ở Việt Nam chúng ta đã trồng chè từ lâu rồi vì thế thực dân Pháp đã biết nơi này là một trong những quê hương của chè nên năm 1924 -1925 họ đã thành lập một công ty kinh doanh chè và tổ chức trại nghiên cứu chè ở Phú Thọ để phát triển các đồn điền trồng chè ở miền Bắc nước ta.

Năm 1924 – 1926 người inđônêxia mới trồng chè thí nghiệm trên đảo Giava và Xumatra.

Còn Ấn Độ đã phát triển nghề trồng chè từ năm 1934, mặc dù đã thất bại trong việc trồng thử chè ở Calcuta vào năm 1780.

Các nước láng giềng, cũng tiếp tục phát triển nghề trổng chè như Srilanca vào năm 1942 và Hungary – 1946.

Trong thời gian này, cây chè còn lan tới 2 Châu khác là châu Phi và Nam Mỹ (Braxin).

1898 – 1900 Iran cũng bắt đầu trồng rồi đến Urganda (1900), Môdămbich, Bungary (1920), Rumany (1920-1930) Thổ Nhĩ Kỳ (1938). Sau đại chiến lần thứ 2, chè lan đến cả phía bắc nước Ý.

Ở nước Nga chè chính thức được trồng từ 1883, nhưng ngay từ năm 1792 trên báo chí đã thấy có bài của Sivers “Làm thế nào để trồng chè ở nước Nga”. Tác giả có đề nghị lấy cành chè ở Nhật về trồng, nhưng rồi chẳng ai hưởng ứng. Sách có ghi lại rằng năm 1834, mặc dầu Saliustij đã chứng minh một cách rất thuyết phục là có thể trồng được chè ở Nga, Nga hoàng cũng chẳng quan tâm đến vấn đề này. Năm 1864 trong một cuộc triển lãm công nghiệp, người ta đã thấy trưng bày mẫu chè Capcadơ, nhưng vì chất lượng quá kém nên không địch nổi chè Trung Quốc tiếp đó người Nga đã tổ chức những cuộc hành trình đi Nhật và Trung Quốc mua giống chè về, nhưng vẫn thất bại vì hạt bị mốc, trồng không thấy hạt nào mọc. Sau này mới biết là các trại chủ Nhật, Trung Quốc và cả người Anh nữa đã nhúng hạt giống vào nước nóng trước khi bán, vì họ không muốn mất một mối lợi kếch xù hàng năm nước Nga vẫn phải nhập chè bằng hàng triệu rúp tiền vàng.

Sử sách của nhiều nước khác cũng nói đến chè rất sớm, nhưng chỉ là chè thương phẩm mua của Trung Quốc, chứ không phải là cây chè họ trồng được, càng không phải là cây chè mọc tự nhiên ở nước họ.

ở phương Tây, quyển sách đầu tiên nói đến chè in năm 1559 của Jovani Batesta Ramudỉo (1485-1557). Sách đầu tiên nước Anh nói đến chè vào năm 1598, còn ở Bồ Đào Nha là 1600.

Chè đã đi bước đi hơn 4000 năm. Giá cứ để mặc cây chè với thiên nhiên và để cho quy luật quần thể sinh vật tác động thì có lẽ hàng triệu năm nữa cây chè vẫn chưa ra khỏi nơi nguyên sản. Nhưng do bị nhu cầu rất lớn của thị trường quốc tế thúc ép, có tác động của con người, các vườn chè trên thế giới theo thời gian cứ tăng mãi lên. Ngày nay đã có 3- 4 chục nước trồng chè ở quy mô lớn chưa kể hàng chục nước khác đang trồng thử, để phát triển. Uỷ ban quốc tế về chè đã tính toán, sản lượng chè toàn thế giới năm 1970 đã vượt 1 triệu 30 vạn tấn/năm trong đó chè Ấn Độ và Xri Lanca chiếm tới một nửa.

 

 

PGS Đỗ Ngọc Quỹ

Giới thiệu : Trà Thuần Việt

Phần 2 : ” Khu vực nguyên sản của cây chè tự nhiên