Trà cổ thụ Khau Mút

Đến giờ, người dân ở đây vẫn truyền khẩu câu chuyện về một người đàn ông dân tộc Dao, sống độc thân trên ngọn núi cao này.

Một lần ông đem 30 gói chè Khau Mút ra thị trấn Vĩnh Lộc (Chiêm Hóa) đổi được một thỏi vàng cổ, đựng trong chiếc hòm sắt nhỏ có khóa hẳn hoi. Ngày ấy, những búp chè to lộc ngộc, ngậm sương núi, được sao khô bằng chảo gang. Chè sao xong được gói bằng loại lá to bản có tên “Đèng Cú Nòm”, cứ 5 lá thì gói 5 lạng chè. Gói chè bằng thứ lá này có thể để trên gác bếp suốt cả năm mà mùi vị chè vẫn không thay đổi…
 
Bây giờ, chè Khau Mút, lúc cao điểm có giá tới gần hai trăm nghìn đồng 1 kg.
 
TRÀ CỔ THỤ Khau Mút

Rừng Trà Shan cổ thụ Khau Mút

 

Khau Mút sương giăng, mây phủ

 
Con đường đến xã vùng cao Thổ Bình (Chiêm Hóa) đã được trải nhựa phẳng phiu, chỉ sau 2 giờ đồng hồ tôi đã có mặt tại trung tâm xã. Sự háo hức như bị gáo nước lạnh khi một người bạn của tôi tuyên bố: “Cứ cơm rượu đã, muốn lên Khau Mút thì phải ngủ lại đây, sáng mai lên sớm thì mới kịp”.
 
Buổi tối, anh kéo tôi sang ăn cỗ mừng người hàng xóm mới sinh được cậu con trai. Ở đây, người Dao có tục nếu sinh con từ rằm tháng Chạp năm trước đến trước rằm tháng Giêng âm lịch năm sau thì phải mang một con lợn nhỡ còn sống đến mời thầy mo, rồi chuẩn bị xôi gà, thủ lợn, bánh, quả… để thầy cúng tẩy uế cho.
 
Thức giấc từ mờ sáng, đã thấy gia chủ chuẩn bị mâm cơm đầy đủ lòng lợn, tiết canh, cơm nấu bếp củi và tất nhiên không thể thiếu cái khoản rượu ngô, ủ bằng thứ men lá. Một cái gùi nhỏ gồm rượu, thịt, gạo và đôi giầy bộ đội đã sẵn sàng cho chuyến đi chinh phục đỉnh Khau Mút. Lúc đầu, mấy người anh em sợ tôi không đủ sức, chỉ định đưa lên đến đỉnh Kéo Ca, nơi chỉ có duy nhất ngôi nhà của ông Phùng Vinh Tiều ẩn hiện giữa muôn ngàn hoa đào, hoa mận đang đua nở trong sắc xuân. Nhưng rồi, cứ men theo bước chân của những người Dao xưa, chúng tôi quyết định đến đỉnh Khau Mút để tận mắt chiêm ngưỡng những cây chè cổ hàng trăm năm tuổi.
 
Thêm một tiếng đồng hồ leo ngược núi, bỗng hiện ra trước mắt một vùng đất khá bằng phẳng – đỉnh núi đây rồi. Ở đây, nếu vào mùa hè sẽ nhìn thấy toàn cảnh thung lũng Thổ Bình, nhưng vào mùa này nhìn xuống, hoặc nhìn ngang chỉ thấy một màn sương giăng trắng đục. Dừng chân nghỉ một lát đã thấy hơi lạnh ngấm vào người, bao nhiêu mồ hôi, mệt nhọc tan biến. Chính cái khí hậu gần như lạnh quanh năm ấy mà năm kia xã Thổ Bình có tới 258 con trâu, bò chăn thả trên núi bị chết rét. Có điều lạ, ở trên đỉnh núi nhưng lại có khu đất rất bằng phẳng, cạnh nơi cây chè to nhất còn có cả một chiếc ao rất rộng…

 

Cây chè trên đỉnh Khau Mút

 
Thân cây chè to nhất phủ đầy rêu xanh, mốc thếch, cao chừng hơn chục mét, nhưng tán chè không xòe rộng như chè tuyết ở Suối Giàng (Yên Bái)… Ông Phùng Vinh Tiều bảo: “Cây chè này phải hai người hái nửa ngày mới hết, một năm chỉ hái được bốn lần, mỗi lần được khoảng 20 kg chè tươi, tương đương 4 kg chè khô. Nhưng đây chưa phải là những cây to nhất. Khu vực có những cây chè to nhất của Khau Mút này ở mãi trên Táng Hóa, Bản Câm, xã Phúc Sơn cơ. Đây mới chỉ là nơi gần hai chục nóc nhà người Dao cuối cùng ở đỉnh Khau Mút hạ sơn xuống làm ruộng lúa nước thôi”.
 
Quả thật nơi đây vẫn còn sót lại những cây vải, cây mít và cả những cây báng to chừng hai người ôm mới hết. Ông Tiều chỉ một cây to nhất bảo, trồng từ đời ông cụ đấy, để vài tháng nữa mới nhờ anh em phạt xuống nấu rượu cưới thằng con trai. Mỗi cây báng trồng đến lúc trổ hoa phải mất nhiều chục năm, ước nặng đến hai, ba tấn, được đẽo vỏ, lấy lõi băm nhỏ rồi đem đồ chín, ủ bằng thứ men lá, nấu bằng thứ nước mạch giữa lưng chừng núi. Cả cây báng to vậy cũng chỉ nấu chừng được 200 lít rượu, chưa chắc đã đủ cho một đám cưới ở vùng đất vốn giàu tình cảm như nơi đây…
 
Trên đỉnh Khau Mút này, chè mọc thành từng khoảnh rải rác. Thân chè phải vươn cao dưới tán rừng già, muốn hái chè người dân chỉ còn cách trèo lên, nhặt từng búp cho vào xoỏng đeo phía sau lưng. Trước đây, những cây cao người hái chè phải bập lỗ ở thân cây để trèo lên, bây giờ họ chặt cây rừng làm giàn giáo để đi từ cây nọ sang cây kia. Người hái chè sợ nhất là vắt xanh và trèo hái chè bị ngã, có nhiều người hút chết đã không dám trèo hái chè nữa. Vào mùa chè tốt, suốt một ngày, đi từ sáng sớm đến khi chạng vạng cũng chỉ hái được hơn chục cân chè tươi là nhiều. Người dân ở đây đi lấy chè như kiếm một thứ tự nhiên của rừng, chẳng cần chăm bón gì, mà có muốn thì cũng chẳng có hơi sức đâu.
 
Chính vì tốn nhiều công sức nên có rất nhiều cây chè mọc dường như chưa được bàn tay con người đụng đến, thân cây cao tít tắp như cây rừng. Giống chè Shan ở đây có lá thuôn dài, lá chè già có màu xanh ngăn ngắt, búp và mặt dưới lá non có lớp lông màu trắng rất mịn. Độ tháng 5 tháng 6, mưa nhiều, búp chè to như đầu đũa ăn cơm, đốt chè dài, hái theo tiêu chuẩn một tôm, hai lá cũng dài đến cả gang tay. Chè Shan Khau Mút có hương vị rất đặc trưng, không thơm ngào ngạt như chè Thái Nguyên mà có mùi thơm dịu. Vị chè đượm ngọt, từ đầu lưỡi cho đến tận cuống họng, lan tỏa từ từ như sương buổi sớm. Chè Khau Mút có đặc điểm uống đến no bụng nhưng không bị xoáy, cồn cào ruột gan như chè dưới xuôi mà chỉ có cảm giác say lâng lâng. Khi pha chè đặc cho đá (nước) vào thì chè ngả sang màu trắng sữa và đặc biệt bã chè uống xong vẫn giữ nguyên hình hài, không bị tã ra…
 

Bao giờ chè Khau Mút có giá?

 
Nhằm phát triển cây chè Shan Khau Mút đặc sản này, huyện Chiêm Hoá đã xây dựng dự án “Cải tạo phục hồi diện tích chè hiện có và trồng mới rừng phòng hộ bằng cây chè Shan Khau Mút” bằng nguồn vốn trồng rừng 661 của Chính phủ. Từ năm 2007 đến nay đã có gần 100 ha chè được trồng từ độ cao 700 mét trở lên so với mực nước biển. Mục tiêu đến năm 2010, vùng chè Khau Mút xã Thổ Bình có 223 ha, trong đó trồng mới 200 ha, phục hồi 23 ha hiện có theo mật độ 2.500 cây/ha. Huyện đã và đang đẩy mạnh thực hiện chính sách giao đất, khoán rừng đến từng hộ trồng chè; mở các lớp đào tạo, chuyển giao kỹ thuật trồng rừng phòng hộ bằng cây chè Shan; xây dựng vườn ươm chè Shan với công suất 190.000 cây/năm…
 
Anh Ma Ngọc Trường, Phó Chủ tịch UBND xã Thổ Bình cho biết, mỗi hộ trồng chè trong thời gian bốn năm được hỗ trợ gần 30 triệu đồng tiền công trồng, chăm sóc, bảo vệ, sau đó người dân được hưởng lợi từ việc thu hái chè. Nhiều nhà trồng từ 3-4 ha. Tết Kỷ Sửu vừa rồi, các hộ trồng chè đã được tạm ứng tiền nên mọi người mừng lắm. Việc trồng rừng phòng hộ bằng cây chè Shan, ngoài ý nghĩa nâng tổng diện tích che phủ của rừng ở Thổ Bình lên 70% diện tích tự nhiên của xã, cây chè Shan còn giải quyết việc làm cho 200 hộ dân địa phương, chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao.
 
Thơm ngon là thế, người trồng chè, bảo vệ vùng chè Khau Mút đổ bao mồ hôi, nhưng sản phẩm chè Khau Mút vẫn còn bấp bênh trên thị trường, lúc đắt vài trăm nghìn đồng thì chẳng có mà bán, khi có nhiều thì chỉ hơn chè bình thường một chút. Theo những người dân ở đây, chè Khau Mút chủ yếu được mua để làm quà, chứ chưa thực sự là hàng hóa vươn ra thị trường. Bây giờ, lợi dụng lúc chè đắt, có người đã lấy chè nơi khác về trộn lẫn rồi bán, làm ảnh hưởng đến chất lượng, uy tín chè của Khau Mút. Những người tham gia dự án trồng chè ở đây vui vì được món tiền trước mắt, nhưng họ cũng vẫn đeo đẳng nỗi lo khi diện tích chè mở rộng đến vài trăm ha, rồi cả nghìn ha thì việc tiêu thụ sẽ ra sao? Nỗi lo của họ quả không thừa bởi đã xuất hiện cách làm ăn chộp giật, vàng thau lẫn lộn của một số ít người tham lợi trước mắt…
 
Nguyễn Lam Sơn
Giới Thiệu : Trà Thuần Việt