Trà Quê

 

Lâu quá mới gặp lại cháu, nơi Bố mẹ tôi sơ tán năm nào vì máy bay Mĩ ném bom bắn phá. Cháu pha ấm trà Quê, tuy không xa vùng Trà Tân Cương Thái Nguyên là mấy, nhưng hương vị của thứ Trà này vẫn riêng, vẫn rất Quê, gợi cho tôi nhớ lại tuổi thơ học trò vùng đồi núi!

Hồi ấy tôi còn nhỏ lắm. mới học lớp 7. Máy bay Mĩ hàng ngày mang bom đến ném xuống Thành phố của tôi, chúng tôi phải học ban đêm bằng đèn dầu, ban ngày theo Bố Mẹ đi sơ tán xa Thành phố .

   Vất vả và nguy hiểm quá, vì hàng ngày tôi và các bạn tôi phải đi qua vùng bom đạn của Mĩ, nên Bố Mẹ tôi chuyển hẳn gia đình về vùng đồi núi xa Thành phố. Sống trên quả đồi vùng trung du, Bố tôi bắt đầu ươm cây chè Tân Cương! Nhân chuyến đi công tác, Bố tôi xin hạt chè tận Núi Guộc Tân Cương ( ngày nay là địa danh Xóm Guộc ) mang về ươm. Hai bố con tôi, cưa ống nứa ra thành từng đoạn ngắn, cho đất mùn trộn đều với phân chuồng hoai vào ống nứa, cẩn thận đặt hạt chè già vào trong ống. Xếp các ống nứa thành hàng lối dưới bóng râm mát của cây vải thiều. Hàng ngày tưới ẩm cho chúng mong ngày nảy mầm.

 

vườn trà ở tân cương

   Rồi Bố Mẹ và tôi tranh thủ chủ nhật, cuốc sới, đánh rãnh, bỏ phân. Tôi vừa đi học, vừa giúp Bố Mẹ làm vườn, sáng ra phải bẻ cành cây xanh phủ lên trên các luống đất…ngụy trang. Dân làng họ vẫn lo sợ, máy bay Mĩ nhầm tưởng là trận địa quân sự mới. Thế mà sau khi chè nẩy mầm, đã đặt ngay ngắn trên các luống đất, không còn mầu đất mới nữa, nhưng máy bay Mĩ vẫn rẹt qua vùng đồi chúng tôi, quẳng vài quả bom nổ tung tóe, may không ai bị thương.

    Đất đỏ trung du, mảnh bom rơi tứ tung phủ cả lên các luống chè non xanh. Bố mẹ tôi lại cần mẫn thu gom các mảnh bom, đạn. Chiều chiều xách nước từ cái ao cạn chân đồi tưới mát cho mầm chè xanh bé nhỏ!
    Những luống chè vẫn vươn xanh, lớn lên mặc khói bom đạn hàng ngày, mặc tiếng còi ủ báo động máy bay Mĩ xâm phạm bầu trời!

   Bố hướng dẫn tôi, lấy đất sét trộn đều với trấu, giấy bản, rơm băm và vôi xỉ đắp một cái lò sao chè to ở đầu trái nhà. Bố tôi đạp xe đạp từ lúc ông mặt trời còn đang ngủ, sang chợ thành phố để mua một cái chảo gang to đùng. Bố tôi về đến nhà cùng cái chảo, mồ hôi ướt đầm lưng áo, trong lúc tôi còn ngái ngủ. Khiêng cái chảo gang nặng ịch, nhìn Bố, thương quá, thầm căm ghét máy bay Mĩ, vì chúng mày mà Bố tôi vất vả dậy sớm, đi xa.

    Thế rồi ngày hái lứa chè đầu tiên cũng đến. Tối hôm trước Bố tôi dặn dò cách hái chè, cách sao chè và đặc biệt ngày mai dậy sớm, ăn sáng thật no, hái chè sớm, trước khi mặt trời lên cao, chè mất nước, bị héo ôi…và cũng đề phòng máy bay Mĩ ném bom bắn phá….

     Bố Mẹ tôi và tôi hái đến gần 9 giờ thì hết cả vườn chè nho nhỏ, những búp chè đầu: “Một Tôm, hai lá; Một Cá, một chìa”, xanh mơm mởn, óng ánh mầu sương ban mai đầy ắp cả hai cái nong to giữa nhà.

    Nghỉ ngơi chút xíu, Bố tôi lại ra nhóm bếp lò. Tôi lễ mễ ôm củi bỏ lò, đổ nước vào chảo gang, để bố tôi rửa sạch chảo trước khi cho chè tươi vào.

    Những ngọn, búp chè gặp nhiệt độ nóng của chảo gang, tái chín, hơi nước bốc lên nghi ngút, mặt Bố tôi cũng ửng đỏ, mồ hôi ướt nhòe cặp kính lão. Tôi lấy chiếc quạt lá quạt lấy, quạt để mong cho những giọt mồ hôi kia bay đi, để cặp kính lão của Bố trở lại trong suốt…Thấy mặt tôi cũng lấm tấm mồ hôi, Bố tôi cười và nhắc tôi mang cái lia to ra để đựng chè đã tái đúng …. độ.

 

sao trà bằng chảo gang ở tân cương

     Những búp chè tươi tai tái, nóng hổi được rải đều trên cái lia to đan bằng tre. Bố tôi, rồi cả mẹ tôi dùng đôi tay vò đi, vò lại, búp chè mềm mại, xoắn lại với nhau, tiết ra một thứ nước xanh rờn, chát xít….Tôi cũng thò đôi tay bé tí, để học cách vò chè, nhưng nóng quá, đành ngồi quan sát những búp chè tươi xanh mơm mởn, nay xanh tái, xoắn dẻo vào nhau dưới bàn tay chịu nóng thần kì của Bố Mẹ tôi….

 

Trà Tân Cương sau khi vò

      Tôi cùng Bố tôi khiêng lia chè đã vò xong đổ vào chảo gang sạch, nóng. Bố tôi đảo nhanh, đều hai chiếc đũa cả vào những ngọn chè đang xoắn vào nhau! Chúng nhảy múa, quyện xoắn vào nhau, rồi tởi bung ra, rồi lại quyện vào nhau! Nhiệt độ của chiếc chảo gang tăng lên, giảm xuống theo sự điều khiển của đôi tay Bố tôi : “….Phải biết canh chừng ngọn lửa, để đủ nhiệt, đúng lúc, cho chè không ôi, ngái vì thiếu nhiệt, không cháy, khét vì thừa nhiệt….”, Bố tôi gạt mồ hôi trên trán, giải thích cho tôi hiểu. Nhìn Bố tôi thương quá, tôi quạt lia, quạt lịa mong cho những giọt mồ hôi trên Bố tôi bớt đi. Bố tôi cười và nói:

- Thôi con ạ, đừng quạt nữa! Vừa mất nhiệt cho chảo, mặt khác Bố không ngửi được hương chè, mùi của chè, làm sao mà điều khiển chế độ nhiệt được.

       Ồ khó vậy sao! Khi sao chè, còn phải dùng mũi ngửi để kiểm tra chất lượng, hương của Trà….

       Mẹ tôi mang chiếc khăn mặt đã được nhúng ướt lạnh giếng đá ong, vắt lên đôi vai gầy của Bố, giảm bớt cái nóng từ bếp lò phả vào mặt, vào người Bố tôi.
          Mùi hương thơm của Trà Móc Câu đã tràn đầy chảo gang, Bố tôi rút củi, gạt than hồng đều khắp đít chảo, bỏ đôi đũa cả, chỉ dùng tay không xoa đều những búp trà hình lưỡi câu. Tôi ngạc nhiên quan sát, Bố tôi giải thích:

         – Bây giờ là giai đoạn lấy hương Trà! Bố chưa thành thạo, nhưng phải thử mới biết làm con ạ!

       Những búp Trà bắt đầu phủ lên mình một mầu trăng trắng, đùng đục giống như bị mốc. Hương của Trà xung quanh chảo cũng giảm ngan ngát!

      – Được rồi con ạ! Hương của Trà đã ẩn kín trong lớp mốc trăng trắng đấy!

     Bố tôi đổ Trà ra mẹt con, tôi ước lượng khoảng gần 1,5 kg. Đúng lúc ấy tiếng còi tầu hoả về ga chuyến 13h 45 cũng tu tu lên.

      – Trà nguội, cất vào hộp đậy kín, ngày mai trà còn ngậy hương hơn cơ! Bố tôi giải thích!

Lớn lên, sau bao lần tự sao chè, tôi chẳng bao giờ ý thức được búp Trà đẹp, ngon, thơm, ngầy ngậy, có hậu, ngọt giọng khi uống, đều do sự nhậy cảm không diễn tả thành lời qua đôi tay điêu luyện, qua cặp mắt dõi trông và cần phải có cái gì nữa trong ….Tâm người thợ chè….

 Ấm trà quê, cạn nước. Tôi chiêu thêm chút nước giếng đá ong đun sôi vào ấm, hương trà lần nữa ngào ngạt xung quanh, hương Trà….Quê đó . Tôi nhớ Bố đã đi xa, nơi Vĩnh hằng, mắt ướt, đầy Hương Trà Quê .